|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 27/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khương
Ông Phạm Việt Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc, Thư ký TAND thị xã Nghĩa Lộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Giỏi - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST - HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Bàn Tòn L, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 02/12/2004 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bàn Phúc Á, sinh năm 1985 và bà Triệu Thị L1, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: QĐ số 34/2022/QĐ-TA ngày 30/6/2022 Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 09 tháng (ngày 30/8/2023 chấp hành xong)
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/7/2024, tạm giam ngày 11/7/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị H, Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 1, trung tâm trợ giúp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Bàn Phúc Á, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Lường Văn L2, sinh năm 1985. Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 20 phút ngày 08/7/2024 công an phường T phát hiện trước cửa đền C thuộc tổ C, phường T, thị xã N có Bàn Tòn L và Lường Văn L2 đang có hành vi trao đổi nghi vấn mua bán trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra. Thấy lực lượng công an cả hai bỏ chạy sau đó bị bắt giữ. L khai nhận vừa bán 01 gói ma túy cho L2 với giá 100.000đồng và lấy từ túi áo ra 02 gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột nén màu trắng giao nộp cho công an. Thu giữ của L 01 điện thoại di động màu xanh nhãn hiệu Itel, số tiền 5.150.000đồng (năm triệu một trăm năm mươi ngàn đồng), 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 000610 mang tên Vì Thị M và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 21K1-61153. L2 khai nhận vừa mua 01 gói ma túy của L nhưng quá trình bỏ chạy đã làm rơi. Công an đã tiến hành truy tìm gói ma túy đó nhưng không thấy.
Quá trình điều tra Bàn Tòn L khai do muốn có ma túy để sử dụng và thu lợi nên trước khi bị bắt 01 tháng Lưu thường đi lên khu vực khu vực S, xã P, huyện T tìm mua ma túy về chia lẻ để sử dụng và bán lại. Lưu thường đứng ở khu vực hàng cây thị xã N ai hỏi mua thì bán. Ngày 04/7/2024 L tiếp tục lên khu vực Suối X mua của một người đàn ông người Mông không biết tên và địa chỉ cụ thể 01 gói ma túy với giá 300.000đồng về chia thành 04 gói nhỏ. L sử dụng 01 gói, bán 03 gói cho Lường Văn L2 được 300.000đồng, cụ thể: Khoảng 17 giờ ngày 05/7/2024 L2 gọi điện hỏi mua ma túy, L đồng ý và hẹn nhau giao dịch tại đền C. Sau đó L đến chỗ hẹn, một lúc sau L2 đến đưa cho L 100.000đồng, Lưu nhận tiền và đưa 01 gói ma túy cho L2. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 06/7/2024 L2 lại gọi điện hỏi mua ma túy. Hai bên hẹn nhau đến trước cửa đền C mua bán, tại nơi hẹn L đã bán cho L2 02 gói ma túy với giá 200.000đồng. Ngày 07/7/2024 L hết ma túy nên đi lên S mua 01 gói ma túy với giá 300.000đồng của người đàn ông hôm trước về chia thành 4 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng. L sử dụng hết 01 gói, bán 01 gói cho L2 vào 11 giờ 20 phút ngày 08/7/2024 tại đền C, khi cả hai vừa giao dịch xong thì bị phát hiện bắt quả tang, 02 gói còn lại bị cáo cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán lại thì bị công an thu giữ. Những lần mua bán ma túy L sử dụng xe mô tô BKS 21K1-61153 của bố đẻ là ông Bàn Phúc Á để làm phương tiện đi lại, ông Á không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua bán ma túy.
Tại cơ quan điều tra Lường Văn L2 khai nhận do quen biết L trong thời gian đi cai nghiện nên đã gọi điện cho L hỏi mua ma túy sử dụng. L2 khai phù hợp với lời khai của L về việc đã mua 03 lần 04 gói ma túy với giá 100.000đồng/01 gói vào các ngày 05/7/2024 mua 01 gói, ngày 06/7/2024 mua 02 gói và ngày 08/7/2024 mua 01 gói. Tất cả các lần mua bán đều thực hiện trước cửa đền C, phường T. Số ma túy mua được ngày 05 và 06/7/2024 L2 đã sử dụng hết, số ma túy mua ngày 08/7/2024 bị làm rơi trong quá trình bỏ chạy.
2
Tại bản kết luận giám định số 428/KL-KTHS ngày 15/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang L có tổng khối lượng là 0,08 gam, là ma túy loại Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 429/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận: Toàn bộ số tiền (5.150.000đồng) thu giữ của L khi bắt quả tang là tiền thật.
Cáo trạng số: 39/CT-VKS-NL ngày 11 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố Bàn Tòn L về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích mục đích, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, giữ nguyên quan điểm của cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 sáu tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì thư, giấy gói; tịch thu của bị cáo số tiền 100.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu xanh đen, loại cảm ứng để sung quỹ; truy thu của bị cáo 300.000đồng; trả lại bị cáo 5.050.000đồng.
Tại phiên tòa bị cáo khai đã thực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy đúng như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị. Lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa tranh luận: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng mà cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh môi trường sinh sống của bị cáo là người dân tộc thiểu số sống tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, quá trình bị bắt bị cáo đã khai ra hành vi bán ma túy cho L2 trước đó khi chưa ai phát hiện từ đó mới bị truy tố theo điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS, quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn khai báo thành khẩn. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo để xử với mức hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo không có tài sản, còn ở chung với gia đình và miễn án phí cho bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh Á) khai chiếc xe mô tô BKS 21K1-61153 là của anh mua lại tại cửa hàng xe máy, việc bị cáo sử dụng xe mô tô để làm phương tiện phạm tội anh không biết. Cơ quan điều tra trả lại anh chiếc xe mô tô và chứng nhận đăng ký xe nên anh không có yêu cầu đề nghị gì.
Người làm chứng (L2) vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố lời khai trong hồ sơ, bị cáo công nhận lời khai của những người làm chứng là đúng sự thật.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như những lời khai của bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra. Đã có đủ căn cứ chứng minh được, với mục đích có ma túy để sử dụng và bán lại thu lợi bất chính nên bị cáo L đã mua ma túy loại Heroin về chia thành các gói nhỏ cho dễ sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện. Từ ngày 05/7/2024 đến ngày 08/7/2024 bị cáo đã bán cho Lường Văn L2 03 lần 04 gói ma túy với giá 100.000đồng/01 gói thu được 400.000đồng, trong đó ngày 05/7/2024 bị cáo bán 01 gói ma túy, ngày 06/7/2024 bán 02 gói và ngày 08/7/2024 bán 01 gói. Toàn bộ những lần bán ma túy đều được thực hiện trước cổng đền C, thuộc tổ C, phường T, thị xã N. Ngoài ra bị cáo còn cất giấu 0,08 gam Heroin nhằm mục đích bán thu lợi.
Hành vi mua bán chất ma túy của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách kiểm soát, chế độ quản lý độc quyền, sản xuất các chất ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng người nghiện chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là chất gây nghiện có tác động rất xấu đến sức khỏe người sử dụng và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác nên nhà nước ta đã tuyên truyền giáo dục và quy định chế tài phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết được việc sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm và có hình phạt rất cao nhưng vì nhu cầu của bản thân và mục đích thu lợi bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện mua bán chất ma túy nhiều lần nên đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy. Với hành vi 03 lần bán ma túy cho L2 trong khoảng thời gian từ ngày 05/7/2024 đến 08/7/2024 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra bị cáo còn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với lượng ma túy 0,08 gam Heroine cất giấu nhằm mục đích bán thu lợi.
4
[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo” và “người phạm tội tự thứ” quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự do tự khai ra hành vi bán ma túy cho L2 khi chưa bị ai phát hiện và khai báo cụ thể rõ ràng về hành vi vi phạm của mình trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa.
Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, có 01 tiền sự do bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, do đó xác định là người có nhân thân chưa tốt.
[4] Với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự thấy rằng tội phạm bị cáo phạm là tội rất nghiêm trọng, cần phải áp dụng hình phạt tù, mức hình phạt tương xứng với tính nguy hiểm của hành vi phạm tội, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại trại giam, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện có hiệu quả. Hình phạt còn có tính răn đe, phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay đặc biệt là tội phạm về ma túy.
Theo xác minh và lời khai của bị cáo thì bị cáo là người không có tài sản riêng, nghiện chất ma túy lâu năm nên còn phải sống phụ thuộc với bố mẹ, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo khai nhận ngoài 03 lần bán ma túy cho L2 đã chứng minh được thì bị cáo còn bán ma túy cho một số người khác nữa nhưng không biết là ai, không có người làm chứng do vậy nên cơ quan điều tra không có căn cứ cơ sở để làm rõ được các hành vi đó trong vụ án.
[5] Về vật chứng và tài sản tạm giữ:
- - 0,08 gam ma túy loại Heroine, cơ quan giám định đã lấy toàn bộ làm mẫu giám định, không hoàn lại.
- - 02 vỏ phong bì và các mảnh giấy gói là những vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel của bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- - Số tiền 5.150.000đồng thu giữ của bị cáo trong đó có 100.000đồng là tiền có từ hành vi bán ma túy cho L2 ngày 08/7/2024 nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, số còn lại 5.050.000đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
- - Truy thu của bị cáo số tiền 300.000đồng thu được từ hành vi bán ma túy cho L2 ngày 05/7/2024 và ngày 06/7/2024.
- - 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy số 000610 mang tên Vì Thị M và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 21K1-61153 đã chứng minh được là tài sản
5
hợp pháp của anh Bàn Phúc Á. Bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi mua bán ma túy nhưng anh Á không biết, do vậy cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản trên cho anh Á quản lý sử dụng là phù hợp với quy định.
[6] Về nguồn gốc ma túy bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực thôn S, xã P, huyện T nhưng không biết rõ họ tên và địa chỉ, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không có đủ manh mối, cơ sở để điều tra xử lý.
Đối với Lường Văn L2 là người mua ma túy của bị cáo để sử dụng. Số ma túy mua ngày 05 và 06/7/2024 đã sử dụng hết, số ma túy mua ngày 08/7/2024 đã làm rơi, vì vậy Công an thị xã N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đối với L2 là phù hợp với quy định.
[7] Những đề nghị của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận. Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt là cao so với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các đề nghị khác có căn cứ được xem xét chấp nhận.
[8] Bị cáo được miễn án phí do thuộc trường hợp là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn; bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Bàn Tòn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bàn Tòn L 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/7/2024.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, màu xanh đen, loại cảm ứng đã qua sử dụng và 100.000đồng (một trăm ngàn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- - Truy thu của bị cáo số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) để sung nộp Ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu tiêu hủy: 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh giấy gói.
- - Trả lại cho bị cáo số tiền 5.050.000đồng (năm triệu không trăm năm mươi ngàn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ ngày 16/9/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ)
6
3. Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bàn Tòn L được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hồng Hạnh |
7
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bàn Ton L phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
