Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.

Bản án số :45/2024/HSST

Ngày 27/8/2024

NHÂN DANH

NỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Trần Thị Lệ T

- Các hội thẩm nhân dân :

  1. Bà Phạm Bích T1 ;
  2. Bà Lưu Thị Thúy N.

- Th ký toà án ghi biên bản phiên toà : Bà Đinh Thị Thu H – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Phan Tường L- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ - tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 47/2024/HSST ngày 05/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 16/8/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc Phương T2; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 30 tháng 5 năm 2004; tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên; Con ông: Nguyễn Văn Á; Sinh năm: 1974; Con bà: Hà Thị Mai H1; Sinh năm: 1981; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Hôm nay có mặt tại phiên toà .

Người bị hại: Chị Hà Phương Y, sinh năm 1999 (Có mặt).

Địa chỉ : Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1973(Có mặt).
  2. Địa chỉ : Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.
  3. Chị Lê Thị T3, sinh năm 1981(Vắng mặt).
  4. Địa chỉ : Khu P, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

Khoảng tháng 8/2023, do có nhu cầu muốn giải quyết việc ly hôn tại Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; chị Hà Phương Y, sinh năm: 1999, trú tại: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, nhờ bạn là chị Trần Thị Thanh T4, sinh năm: 1999, trú tại: Khu X, xã K, huyện T, tỉnh Phú Thọ, tìm người tư vấn, làm các thủ tục xin ly hôn để giúp chị Y giành được quyền nuôi con. Chị T4 đồng ý giới thiệu cho chị Y, Nguyễn Ngọc Phương T2, sinh năm: 2004, trú tại: Khu T, phường T, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, là khách thường đến quán chị T4 ở khu Đ, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ gội đầu, làm móng; vì trước đó, T2 nói với chị T4, T2 công tác tại Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ, nếu ai có nhu cầu tư vấn pháp lý thì liên hệ với T2. Tại quán của chị T4, sau khi xem các giấy tờ liên quan đến việc xin ly hôn của chị Y, T2 khẳng định có mối quan hệ với Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, hứa hẹn giúp chị Y hoàn thiện thủ tục ly hôn nhanh và sẽ giành được quyền nuôi con nên chị Y và T2 cho nhau số điện thoại để liên lạc. Sau đó, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ, T2 dùng chiếc điện thoại Iphone 6S màu vàng, lắp sim số 0966.659.354 (đăng kí thuê bao đứng tên T2), gọi đến số điện thoại 0384.632.xxx (đăng kí thuê bao đứng tên chị Y), yêu cầu chị Y chuyển cho T2 các khoản tiền như: Phí hồ sơ, phí xác minh, tiền bồi dưỡng cho những người làm ở Tòa án, Viện kiểm sát mục đích để “bôi trơn” xử lý nhanh chóng công việc cho chị Yến. Do tin tưởng, trong các ngày 05, 08, 09, 10, 13, 15, 17, 18, 20, 21 và 25/8/2023, ngày 01, 16/9/2023, và 01/10/2023, chị Y đã dùng tài khoản “4220359479” của mình mở tại Ngân hàng Đ (B), chuyển khoản đến số tài khoản “0966659354” của T2 mở tại Ngân hàng Q (M), số tiền lần lượt là: 1.000.000 đồng, 10.550.000 đồng, 5.000.000 đồng, 10.000.000 đồng, 20.000.000 đồng, 600.000 đồng, 6.000.000 đồng, 8.000.000 đồng, 11.000.000 đồng, 11.000.000 đồng, 4.000.000 đồng, 500.000 đồng, 200.000 đồng và 2.000.000 đồng. Ngoài ra, ngày 06/8/2023, chị Y nhờ mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1973, trú tại: Khu H, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ dùng tài khoản “102876376757” của bà K mở tại Ngân hàng TMCP C (V) chuyển khoản cho T2 20.000.000 đồng; Ngày 25/8/2023, chị Y nhờ chị Lê Thị T3, sinh năm: 1981, nơi thường trú: Khu P, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ dùng tài khoản “42210000329612” của chị T3 mở tại Ngân hàng Đ (B) chuyển khoản cho T2 3.000.000 đồng và giữa tháng 9/2023 (không rõ ngày cụ thể), tại khu vực chân C thuộc địa phận xã H, thị xã P, chị Y đưa cho T2 10.000.000 đồng tiền mặt. Tổng số tiền, T2 nhận của chị Y là 122.850.000 đồng, số tiền này, T2 đã chi tiêu cá nhân hết. Đến khoảng tháng 11/2023, chị Y phát hiện T2 không công tác trong nghành Tòa án, không có mối quan hệ với Toà án nhân dân thành phố Việt Trì và không giúp chị Y như T2 đã nói nên chị Y nhiều lần đòi T2 trả lại tiền. Từ tháng 12/2023 đến giữa tháng 1/2024, T2 đã trả lại cho chị Y 21.500.000 đồng, còn 101.350.000 đồng, T2 không trả được nên chị Y đã làm đơn tố cáo và đề nghị xử lý T2 theo quy định pháp luật.

Tại Cơ quan CSĐT Công an thị xã P, Nguyễn Ngọc Phương T2 khai nhận: Hiện T2 là sinh viên khoa Điều dưỡng của trường Cao đẳng Y1; do cần tiền chi tiêu cá nhân, T2 đưa ra thông tin làm ở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ, có nhiều mối quan hệ và có khả năng giúp chị Y làm nhanh thủ tục ly hôn và giành được quyền nuôi con để chị Y tin tưởng đưa cho T2 tổng số tiền 122.850.000 đồng như trên. Sau khi nhận tiền T2 không sử dụng bất kỳ khoản tiền nào và không liên lạc với bất kỳ ai để nhờ làm thủ tục cho chị Y mà chi tiêu cá nhân hết, chiếc điện thoại Iphone 6S màu vàng lắp sim số 0966.659.354, T2 sử dụng để gọi điện, nhắn tin trao đổi, yêu cầu chị Y chuyển tiền do bị hỏng nên khoảng đầu tháng 02/2024, T2 đã vứt bỏ. Lời khai của T2 phù hợp với lời khai của chị Y, người biết việc, người liên quan và các tài liệu khác Cơ quan CSĐT Công an thị xã P thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Đối với chị Trần Thị Thanh T4 không biết việc T2 đưa ra thông tin gian dối để lừa chị Y và cũng không được hưởng lợi gì từ T2 nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án.

Đối với số tiền chị Hà Phương Y nhờ bà Nguyễn Thị K, chị Lê Thị T3 chuyển khoản cho T2, bà K, chị T3 không có yêu cầu đề nghị gì đối với chị Y.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố, Nguyễn Ngọc Phương T2 đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của mình, bản thân T2 đã tự nguyện khắc phục hậu quả, trả được cho chị Y 21.500.000 đồng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo T2 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Vê trách nhiệm dân sự: Chị Hà Phương Y yêu cầu T2 phải trả lại số tiền 101.350.000 đồng, ngoài ra không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

Về điều kiện kinh tế, tài sản, thu nhập: Nguyễn Ngọc Phương T2 không có tài sản gì có giá trị, không có việc làm, không có thu nhập.

Tại bản cáo trạng số 49/CT-VKSTX ngày 02/8/2024 của VKSND thị xã Phú Thọ đã truy tố Nguyễn Ngọc Phương T2 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, Nguyễn Ngọc Phương T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi: Khoảng tháng 8/2023, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ, do cần tiền chi tiêu cá nhân và biết chị Hà Phương Y có nhu cầu làm nhanh thủ tục ly hôn và giành được quyền nuôi con; Nguyễn Ngọc Phương T2 đã thực hiện hành vi đưa ra các thông tin gian dối, T2 là cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ, có nhiều mối quan hệ và có khả năng giúp chị Y. Do tin tưởng, từ ngày 05/8/2023 đến ngày 01/10/2023, chị Y nhiều lần chuyển khoản, nhờ người khác chuyển khoản và trực tiếp đưa tiền mặt cho T2 với tổng số tiền 122.850.000 đồng để nhờ T2 giúp làm nhanh thủ tục ly hôn và được nuôi con. Sau khi nhận được tiền, T2 không giúp chị Y mà chiếm đoạt số tiền, chi tiêu cá nhân hết. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo không có lời tranh luận, bào chữa nào khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, Điều 38 BLHS xử phạt Nguyễn Ngọc P Thảo mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Buộc bị cáo T2 phải bồi thường cho chị Hà Phương Y số tiền 101.350.000đ.

Về án phí: Nguyễn Ngọc Phương T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có tranh luận gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa hôm nay, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc P T2 phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và vật chứng thu được của vụ án. Khoảng tháng 8/2023, tại thị xã P, tỉnh Phú Thọ, do cần tiền chi tiêu cá nhân và biết chị Hà Phương Y có nhu cầu làm nhanh thủ tục ly hôn và giành được quyền nuôi con; Nguyễn Ngọc Phương T2 đã thực hiện hành vi đưa ra các thông tin gian dối, T2 là cán bộ Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ, có nhiều mối quan hệ và có khả năng giúp chị Y. Do tin tưởng, từ ngày 05/8/2023 đến ngày 01/10/2023, chị Y nhiều lần chuyển khoản, nhờ người khác chuyển khoản và trực tiếp đưa tiền mặt cho T2 với tổng số tiền 122.850.000 đồng để nhờ T2 giúp làm nhanh thủ tục ly hôn và được nuôi con. Sau khi nhận được tiền, T2 không giúp chị Y mà chiếm đoạt số tiền, chi tiêu cá nhân hết. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ.

Do đó có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Ngọc P Thảo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 điều 174 Bộ luật hình sự.

Điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;”.

[1] Hành vi, quyết định tố tụng: của cơ quan điều tra Công an thị xã P, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T2 không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, với lỗi cố ý đã trực tiếp xâm phạm trái pháp luật đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân, làm mất an ninh trật tự xã hội. Do đó vụ án cần phải được đưa ra xét xử nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3] Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành,có hiểu biết, có sức khỏe nhưng không chăm chỉ lao động để có thu nhập chính đáng. Lợi dụng sơ hở và sự tin tưởng của người khác để chiếm đoạt số tài sản trị giá 122.850.000 đồng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội nhất thời do hám lợi, số tiền chiếm đoạt đã khắc phục một phần cho bị hại. Do đó bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b,s khoản 1điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng phạm tội nhiều lần nên phải chịu tình 01 tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 BLHS. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã nêu, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cho bị cáo một mức phạt tù có thời hạn mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo lấy đó làm bài học để sống tuân thủ pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung : Khoản 5 điều 174 BLHS qui định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”. Xét thấy, sau khi bị cáo bị khởi tố, là sinh viên, không có việc làm, không có thu nhập, không có tài sản giá trị ngoài các đồ dùng sinh hoạt thiết yếu nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự và sử lý vật chứng của vụ án:

Đối với số tiền 122.850.000 đồng, T2 đã chi tiêu cá nhân hết. Từ tháng 12/2023 đến giữa tháng 1/2024, T2 đã trả lại cho chị Y 21.500.000 đồng, còn 101.350.000 đồng, cần buộc T2 phải trả cho chị Y là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại Iphone 6S màu vàng lắp sim số 0966.659.354, T2 sử dụng để gọi điện, nhắn tin trao đổi, yêu cầu chị Y chuyển tiền, do bị hỏng nên khoảng đầu tháng 02/2024, T2 đã vứt bỏ, cơ quan điều tra không thu hồi được vì thế không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với số tiền chị Hà Phương Y nhờ bà Nguyễn Thị K, chị Lê Thị T3 chuyển khoản cho T2, bà K, chị T3 không có yêu cầu đề nghị gì đối với chị Y cần xác nhận là hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo T2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên :

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 2 điều 174, điểm b, s khoản 1 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52; khoản 1 điều 38, khoản 1 điều 48 Bộ luật hình sự: Khoản 2 điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 điều 585, khoản 1 điều 586 Bộ luật dân sự; điểm a,c khoản 1 Điều 23, khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Phương T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

- Xử phạt: Nguyễn Ngọc P Thảo 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày từ ngày bị cáo bị bị cáo đi thi hành án. Miễn áp dụng hình phạt bổ xung.

- Về trách nhiệm dân sự:

Xác nhận bị cáo đã bồi thường cho chị Hà Phương Y số tiền 21.500.000 đồng . Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Phương T2 phải bồi thường tiếp cho chị Hà Phương Y số tiền 101.350.000đ (một trăm linh một nghìn ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Xác nhận bà Nguyễn Thị K, chị Lê Thị T3 không có yêu cầu đề nghị gì đối với chị Hà Phương Y về số tiền đã chuyển khoản hộ Y cho bị cáo T2 là hợp pháp.

Về án phí : Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc Phương T2 phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.067.000đ (năm triệu không trăm sáu mươi bẩy nghìn đồng) án phí dân sự.

Khi bản án có hiệu lực pháp, kể từ ngày chị Y có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì bị cáo còn phải trả cho bị hại tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; bị hại;
  • - VKSND thị xã Phú Thọ;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan điều tra Công an thị xã Phú Thọ;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Cơ quan thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng, kế toán.

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Lệ Thanh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HSST ngày 27/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 45/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger