TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS-ST
Ngày: 14-6-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa : ông Nguyễn Quốc Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân :
- 1. Ông Cao Hoài Hiêm;
- 2. Ông Trần Văn Hùng.
Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Lê Huỳnh Như Nguyện - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:44/2024/QĐXXST-HS ngày 03-6-2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trường A, sinh năm 2001, tại tỉnh Cà Mau. Nơi đăng ký HKTT: ấp C, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi cư trú hiện nay: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Phạm Thu Đ; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 28/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh cho đến nay. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1994. Địa chỉ: số H C, đường L, phường E, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt)
- Nguyễn Trường Q, sinh năm 1997. Địa chỉ: khu phố T, phường G, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
Người làm chứng: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; trú tại: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 50 phút ngày 19/01/2024, Công an thị xã T bắt quả tang Nguyễn Trường A đang tổ chức cho Nguyễn Hoàng Anh T, sinh năm 1994 và Nguyễn Trường Q, sinh năm 1997 sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ số E, nhà trọ “K" thuộc khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Thu giữ 01 bịch nylon trong suốt, được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (nghi là chất ma túy, kí hiệu M1); 01 chai nhựa trong suốt, có nắp màu trắng, trên nắp có hai lỗ tròn, một lỗ gắn một ống hút nhựa màu trắng; 01 ống thủy tinh trong suốt dạng phễu, bên trong phễu có chứa chất rắn màu xám (nghi là chất ma túy, kí hiệu M2); 01 ống thủy tinh trong suốt dạng phễu, bên trong phễu có chứa chất rắn màu xám (nghi là chất ma túy, kí hiệu M3) và một số vật chứng khác có liên quan.
Qua điều tra, thể hiện: Ngày 13/01/2024, Nguyễn Trường A được bạn gái tên “H” (không rõ địa chỉ) cho 01 bịch nylon trong suốt, bên trong chứa chất ma túy và 02 ống thủy tinh dạng phễu để sử dụng. A lấy một phần chất ma túy được cho đổ vào ống thủy tinh dạng phễu do “Hà My” đưa sử dụng một mình tại phòng trọ nhưng không sử dụng hết (kí hiệu M3); riêng chất ma túy trong bịch nylon trong suốt A cất giấu trong hộp giấy màu trắng dưới tủ nhựa đựng quần áo tại phòng trọ của A. Đến khoảng 20 giờ ngày 16/01/2024 và khoảng 21 giờ ngày 18/01/2024, Nguyễn Trường Q và Nguyễn Hoàng Anh T đến phòng trọ của A chơi. Lúc này, A rủ Q và T cùng sử dụng chất ma túy, A lấy một phần chất ma túy trong bịch nylon trong suốt dưới tủ nhựa đổ vào một ống thủy tinh dạng phễu của A để sử dụng cùng Q và T.
Đến 15 giờ 30 phút ngày 19/01/2024, A tiếp tục lấy một phần chất ma túy trong bịch nylon trong suốt cất giấu dưới tủ nhựa (kí hiệu M1) đổ vào ống thủy tinh dạng phễu (đã sử dụng ngày 16, 18/01/2024) (kí hiệu M2) tổ chức cho Q và T sử dụng thì bị bắt quả tang.
Tại Kết luận giám định số 158/KL-KTHS ngày 27/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
- - Mẫu tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon trong suốt được bịt kín gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,4805 gam.
- - Mẫu chất rắn màu xám (kí hiệu M2) bên trong 01 ống thủy tinh trong suốt dạng phễu gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0485 gam.
- - Mẫu chất rắn màu xám (kí hiệu M3) bên trong 01 ống thủy tinh trong suốt dạng phễu gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0435 gam.
Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 19/01/2024 tại Trạm y tế phường Trảng Bàng của Nguyễn Trường A, Nguyễn Trường Q, Nguyễn Hoàng Anh T, thể hiện: Dương tính với chất ma túy.
Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số: 41/CT-VKSTrB ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Trường A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh nêu trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 255; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo A từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp hình phạt của hai tội theo quy định.
- - Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về bào chữa: bị cáo thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến gì bào chữa cho mình.
Về nói lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của họ đã có đầy đủ trong hồ sơ vụ án, việc xét xử vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau:
Từ ngày 16/01/2024 đến ngày 18/01/2024, Nguyễn Trường A tổ chức cho Nguyễn Trường Q và Nguyễn Hoàng Anh T sử dụng trái phép chất ma túy được 02 lần. Vào lúc 15 giờ 50 phút ngày 19/01/2024, tại phòng trọ số E, nhà trọ “K" thuộc khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh, A tiếp tục tổ chức cho Nguyễn Trường Q và Nguyễn Hoàng Anh T sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép 0,524 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 255 và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng và nhân thân của bị cáo:
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:
Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo A là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Bị cáo phạm tội 02 lần, đối với 2 người và phạm 02 tội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
- - 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 158/M1 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý Lê Đức T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 158/M2 có chứ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý Lê Đức T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 158/M3 có chứ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý Lê Đức T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; 01 (một) bật lửa khò bằng kim loại màu hồng (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng, một đầu nhọn, một đầu bằng (đã qua sử dụng); 01 (một) cái cân điện tử tiểu ly, màu đen-trắng, không có nhãn hiệu (đã qua sử dụng); 01 (một) cái cân điện tử tiểu ly, màu đen, mặt sau có chứ Made in China (đã qua sử dụng), là các vật chứng liên quan đến việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy;
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA-1174, màu đen, số IMEI1: 353482150487901; số IMEI2: 353482152487909, bên trong có sim số 0829.541.647 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu đen, số IMEI1: 351662612122715, số IMEI2: 352465212122716 (đã qua sử dụng) và Tiền Việt Nam 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng, là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo A.
Ghi nhận các vật chứng khác của vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
[6] Về án phí: bị cáo A phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Trường A, Nguyễn Trường Q, Nguyễn Hoàng Anh T đã bị Công an thị xã T xử phạt vi phạm hành chính.
Đối với người phụ nữ tên “Hà M” bị cáo A khai đã cho chất ma túy; hiện không rõ địa chỉ và chưa làm việc được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T đang tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Đối với bà Nguyễn Kim H là chủ nhà trọ “K” không biết việc Nguyễn Trường A thuê nhà trọ do mình quản lý để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không đề nghị xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A 08 (T3) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Trường A phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (Chín) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 19/01/2024.
2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: căn cứ các Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số 158/M1 có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý Lê Đức T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; sau giám định còn lại 0,4425 gam chất ma túy, loại Methamphetamine; 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 158/M2 có chứ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý Lê Đức T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; đã sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 (một) gói niêm phong ghi vụ số: 158/M3 có chứ ký của Giám định viên Nguyễn Văn N, trợ lý Lê Đức T2 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T; đã sử dụng hết trong quá trình giám định; 01 (một) bật lửa khò bằng kim loại màu hồng (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng, một đầu nhọn, một đầu bằng (đã qua sử dụng); 01 (một) cái cân điện tử tiểu ly, màu đen-trắng, không có nhãn hiệu (đã qua sử dụng); 01 (một) cái cân điện tử tiểu ly, màu đen, mặt sau có chứ Made in China (đã qua sử dụng);
- + Trả lại cho bị cáo A: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia TA-1174, màu đen, số IMEI1: 353482150487901; số IMEI2: 353482152487909, bên trong có sim số 0829.541.647 (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S, màu đen, số IMEI1: 351662612122715, số IMEI2: 352465212122716 (đã qua sử dụng) và Tiền Việt Nam 750.000 (Bảy trăm năm mươi nghìn) đồng.
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quốc H1 |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường An tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
