Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 26 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Hữu Tấn

2. Bà Nguyễn Thị Xuân Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2024/TLST-HS, ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Kim T (B), sinh ngày 15 tháng 3 năm 1995 tại thành phố L, tỉnh An Giang. Cư trú: số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim V và bà Phạm Thị Bích P; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Có 01 tiền án, tại bản án hình sự sơ thẩm số 62/2017/HS-ST, ngày 30/6/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 14/5/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ 01/01/2024 đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Lê Thành P1, sinh năm 1991; cư trú: số F, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đỗ Trung T1, sinh năm 1985; cư trú: số F đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

2. Ông Mai Hoàng Q, sinh năm 1991; cư trú: số C, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 30 tháng 4 năm 2023, Lê Thành P1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa, biển số 67D1-909.80 đến nhà Nguyễn Kim T tại số B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang để uống bia với Kim T. Do uống say, nên P1 ngủ lại nhà của Kim T và giao xe mô tô biển số 67D1-909.80 cho Kim T sử dụng. Đến khoảng 19 giờ, ngày 01 tháng 5 năm 2023, Kim Tín điều khiển xe mô tô này đi mua đồ ăn thì gặp T2 (chưa rõ họ, địa chỉ) chặn xe yêu cầu Kim T trả nợ. Lúc này Kim T nảy sinh ý định cầm xe của P1 để trả nợ cho T2, thực hiện ý định Kim Tín điều khiển xe này đến cầm cho Đỗ Trung T1 với số tiền 25.000.000 đồng. Sau khi biết việc Kim T mang xe đi cầm, P1 đã yêu cầu trả xe và Kim T hứa trong một tuần sẽ chuộc xe trả lại cho P1.

Đến ngày 09 tháng 5 năm 2023, Kim T gặp ông Đỗ Trung T1 chuộc lại xe mô tô biển số 67D1-909.80, nhưng không trả cho P1 như đã hứa mà tiếp tục cầm xe cho ông Mai Hoàng Q với số tiền 30.000.000 đồng và sử dụng số tiền này để tiêu xài cá nhân. Đến hạn không thấy Kim T trả xe, nên P1 đến Công an phường M trình báo sự việc.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô Piaggio Vespa biển số 67D1-909.80 số khung RP8M82511KV044337, số máy M82EM5067195 do Mai Hoàng Q giao nộp và số tiền 200.000 đồng do Đỗ Trung T1 giao nộp.

Kết luận định giá tài sản số 278/KL-HĐĐGTS, ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Piaggio Vespa biển số 67D1-909.80, số khung RP8M82511KV044337, số máy M82EM5067195, trị giá 47.910.000 đồng.

Kết luận giám định số 113/KL-KTHS(KT-GT), ngày 03 tháng 9 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận: Xe mô tô biển số 67D1-909.80, có số khung RP8M82511KV044337, số máy M82EM5067195 không đổi.

Tại Cơ quan điều tra, Kim T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu. Ngày 01 tháng 5 năm 2023, sau khi cầm xe mô tô biển số 67D1-909.80 cho Đỗ Trung T1 được 25.000.000 đồng, Kim T trả nợ cho T2 23.500.000 đồng còn lại tiêu xài cá nhân. Đến ngày 09 tháng 5 năm 2023, Kim T hẹn gặp Mai Hoàng Q tại quán C thuộc phường M, thành phố L để xem xe và điện thoại cho T3 Tín điều khiển xe mô tô biển số 67D1-909.80 đến. Sau khi thỏa thuận, Q đồng ý cầm xe với giá 30.000.000 đồng, Kim T trả Trung Tín 25.000.000 đồng và cho thêm 200.000 đồng, số tiền còn lại Kim Tín tiêu xài cá nhân. Đến ngày 27 tháng 10 năm 2023, Kim T đã trả 30.000.000 đồng cho Mai Hoàng Q.

Cáo trạng số: 51/CT-VKS-HS, ngày 20 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, truy tố Nguyễn Kim T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Văn P2 đã nhận lại tài sản; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Mai Hoàng Q và ông Đỗ Trung T1 đã nhận đủ tiền do Kim T trả, không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên không xét đến.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản, không nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do liên quan đến hành vi phạm tội.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Kim T khai nhận đã thực hiện hành vi mang xe của bị hại đi cầm để lấy tiền tiêu xài và trả nợ mà không hỏi ý kiến của bị hại như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn, hối cải nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại ông Lê Văn P2 trình bày phù hợp với nội dung vụ án đã nêu. Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Trung T1 và ông Mai Hoàng Q trình vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra trình bày như nội dung vụ án đã nêu. Các ông Trung T1 và Q không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng không ảnh hưởng đến việc xét xử và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của những người tham gia tố tụng nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 19 giờ, ngày 01 tháng 5 năm 2023, lợi dụng sự tín nhiệm của bị hại trong việc giao xe cho bị cáo sử dụng, bị cáo đã thực hiện hành vi mang xe của bị hại đi cầm khi chưa có sự đồng ý của bị hại, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối cho ông Trung T1 và ông Q tin rằng xe này thuộc quyền quản lý và định đoạt của bị cáo và đồng ý cầm xe, nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bị hại. Hành vi của bị cáo T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự có khung hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

Đối với Đỗ Trung T1 và Mai Hoàng Q không biết xe mô tô do do Kim T đem cầm do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự Trung Tín và Q về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi lấy tài sản của bị hại mang đi cầm khi chưa có sự đồng ý của bị hại là vi phạm pháp pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại, sau khi bị phát hiện bị cáo hứa hẹn với bị hại sẽ trả lại xe, nhưng bị cáo không thực hiện mà tiếp tục mang xe đi cầm cho người khác, thể hiện bị cáo rất manh động, liều lĩnh và xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo đã 01 lần bị kết án về tội "mua bán trái phép chất ma túy", chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử không xét đến.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã giao trả 01 xe mô tô Piaggio Vespa biển số 67D1- 909.80 số khung RP8M82511KV044337, số máy M82EM5067195 cho ông Lê Thành P1 theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu, ngày 01/11/2023, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với, số tiền 200.000 đồng do ông Đỗ Trung T1 giao nộp, đây là tiền liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

[8] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành hình phạt.

Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (theo Quyết định chuyển vật chứng số 69/QĐ-VKS-HS, ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Kim T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

(Ký tên, ghi rõ họ tên)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Chiền

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Nhà tạm giữ CA.TPLX;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ; Văn phòng.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger