|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/ HS-ST
Ngày 26 tháng 4 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Hảo, ông Phạm Phước Cường.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn T, sinh năm 1983, nơi sinh thành phố C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 02, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn S và bà Nguyễn Thị M. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 14/01/2024.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1972, nơi cư trú: tổ D, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Bà Thái Thị Thanh T1, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ D, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- - Ông Lê Ngọc S1, sinh năm 1989, nơi cư trú: tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người làm chứng: Lê Thanh N, sinh năm 1987 (vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, Huỳnh Văn T đi bộ đến vườn cây kiểng của Nguyễn Thị G thuộc tổ D, khóm V, phường V, thành phố C, với ý định bắt trộm gà nhưng khi đột nhập vào trong không thấy gà nên T lấy trộm 01 cây mai, bông vàng 12 cánh, cao 140cm, hoành gốc 18cm (trị giá 1.000.000 đồng). Trường mang cây mai về gần nhà Trường ở tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, cất giấu chờ tiêu thụ. Đến khoảng 23 giờ ngày 10/01/2024, T tiếp tục đột nhập vào vườn cây kiểng của G lấy trộm 01 cây mai, bông vàng 08 cánh, cao 70cm, hoành gốc 24cm (trị giá 2.500.000 đồng). Trường mang cây mai đến khu vực tổ B, khóm V, phường V, thành phố C, bán cho Lê Ngọc S1, được 200.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Phát hiện bị mất trộm Nguyễn Thị G trình báo Cơ quan Công an, mời làm việc Huỳnh Văn T thừa nhận hành vi phạm tội, giao nộp vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 01 cây mai, bông vàng 12 cánh, cao 140cm, hoành gốc 18cm; 01 cây mai, bông vàng 08 cánh, cao 70cm, hoành gốc 24cm (đã trao trả cho bị hại Nguyễn Thị G).
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 57/KL-ĐG ngày 14/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 cây mai, bông vàng 12 cánh, cao 140cm, hoành gốc 18cm, trị giá 1.000.000 đồng và 01 cây mai, bông vàng 08 cánh, cao 70cm, hoành gốc 24cm, trị giá 2.500.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Huỳnh Văn T về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (Bộ luật Hình sự).
Cáo trạng số 28/CT-VKSCĐ-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Bị cáo không có ý kiến gì về Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự. Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
3
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường; người liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền giao dịch nên không đề cập xem xét, giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng,
[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[3] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các vật chứng đã thu giữ và trả lại cho bị hại, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận:
4
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, bị cáo đi bộ đến vườn cây kiểng của bị hại G tại tổ D, khóm V, phường V, thành phố C lén lút lấy trộm tài sản là 02 cây mai vàng, trị giá 3.500.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản; bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù (tội phạm ít nghiêm trọng).
Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo thuộc thành phần lao động, không biết chữ nên hiểu biết pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị cáo thuộc thành phần lao động, không có nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên.
[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường; người liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền giao dịch nên không đề cập xem xét, giải quyết theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[7] Vấn đề khác: Lê Ngọc S1 khi mua tài sản của bị cáo không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Tuy không xử lý đối với S1 nhưng cần giáo dục công khai tại phiên tòa về việc mua tài sản không rõ nguồn gốc và không có hóa đơn, chứng từ.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015;
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 14/01/2024 (ngày mười bốn, tháng một, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trần Thị Phương |
6
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: uyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 01 (một) năm tù
