Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ LỘC

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 25/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Xuân Cầm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Văn Vy và ông Nguyễn Đức Phương.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Bảo Lâm, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trần Quân, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Thị Mỹ D;

sinh ngày 10/6/1986 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ học vấn: Lớp 05/12; con ông: Trần Hoài L (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ (Đã chết); chồng: Ông Trần B, sinh năm 1986; con: Có 03 người con (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020); tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn P, sinh năm 1964; bà Trần Thị B1, sinh năm 1964. Đều trú tại: Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; ông P có mặt; bà B1 vắng mặt.

Người làm chứng:

  • + Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1963; địa chỉ: Thôn E, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
  • + Bà Trần Thị L1, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 21/10/2023, Trần Thị Mỹ D đến chơi tại nhà ông Nguyễn P, bà Trần Thị B1. Sau khi D vào chơi và nói chuyện với bà Trần Thị B1 ở nhà dưới một lúc thì D đi lên nhà trên, D thấy có tủ áo quần và cửa đang khép hờ nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. D lén lút đến mở và lục tủ, phát hiện trong túi áo vét nam màu đen của ông P có một chiếc nhẫn bằng vàng có đính hạt ngọc màu đỏ (trọng lượng 02 chỉ, loại vàng 9999) và số tiền Ngân hàng N 5.500.000 đồng nên D chiếm đoạt, cất vào trong túi áo rồi đem về nhà mình cất giấu. Khoảng 03 đến 05 ngày sau, D khai đem chiếc nhẫn đến bán cho tiệm V tại chợ M, xã V, huyện P với giá 10.600.000 đồng. Số tiền có được D đã sử dụng hết. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp, nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nên ngày 24/01/2024, Nguyễn Thị Mỹ D đến Công an xã V để tự thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 09/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định tại thời điểm chiếm đoạt chiếc nhẫn bằng vàng có trọng lượng 2 chỉ, loại vàng 9999 có giá trị là 10.395.000 đồng.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại yêu cầu bị cáo Trần Thị Mỹ D bồi thường tổng số tiền là 19.500.000 đồng (trong đó: Trị giá chiếc nhẫn vàng 02 chỉ là 14.000.000 đồng và số tiền 5.500.000 đồng). Bị cáo D đã thoả thuận bồi thường số tiền 19.500.000 đồng cho bị hại.

Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKSPL ngày 02/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc truy tố bị cáo Trần Thị Mỹ D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị Mỹ D từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét; về án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Bị cáo Trần Thị Mỹ D khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại đã nhận lại toàn bộ trị giá tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm và xin Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nhẹ nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Phú Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Trần Thị Mỹ D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 21/10/2023, tại nhà của ông Nguyễn P, bà Trần Thị B1 ở thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Thị Mỹ D đã lợi dụng sơ hở lén lút chiếm đoạt của ông P, bà B1 số tiền 5.500.000 đồng và một chiếc nhẫn bằng vàng có trọng lượng 2 chỉ, loại vàng 9999 trị giá 10.395.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà D đã chiếm đoạt của ông P, bà B1 là 15.895.000 đồng.

Với hành vi và hậu quả nêu trên, bị cáo Trần Thị Mỹ D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 39/CT-VKSPL ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ pháp luật.

[3]Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]Xét các căn cứ quyết định hình phạt, thấy rằng:

[4.1]Bị cáo Trần Thị Mỹ D không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[4.2]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã tự thú; bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[4.3]Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, chưa lần nào vi phạm pháp luật; có nơi cư trú rõ ràng.

[5]Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù nhưng không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6]Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại toàn bộ trị giá tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]Bị cáo khai có bán chiếc nhẫn vàng cho bà Nguyễn Thị Thanh T (chủ T1 vàng Thanh Tuý tại xã V) nhưng bị cáo không nói cho bà T biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có. Mặt khác, quá trình điều tra không có căn cứ xác định việc mua bán trên nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm pháp lý đối với bà T.

[10]Quan điểm về giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lộc phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Mỹ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm b, i, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Mỹ D 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (25/7/2024).

    Giao bị cáo Trần Thị Mỹ D cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Trần Thị Mỹ D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại (ông Nguyễn P) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại (bà Trần Thị B1) có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh T.T-Huế;
  • - VKSND tỉnh T.T-Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh T.T-Huế;
  • - Phòng PV-16 Công an tỉnh T.T-Huế;
  • - VKSND huyện Phú Lộc;
  • - Cơ quan CSĐT Công an h.Phú Lộc;
  • - Cơ quan THAHS Công an h.Phú Lộc;
  • - Chi cục THADS h. Phú Lộc;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Xuân Cầm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LỘC, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BAN AN TRAN THI MY DUNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger