Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIẾN THỤY

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vũ Thị Dịu

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Đôi

Bà Phan Thị Minh Phương

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy tham gia phiên tòa: Bà Đỗ

Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2024/TLST-HNGĐ, ngày 24 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị X, sinh năm 1984; đăng ký hộ khẩu thường trú:

Thôn G, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng. Nơi ở hiện nay: Thôn F, xã K, huyện K,

thành phố Hải Phòng; có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Sĩ S, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn G, xã K, huyện

K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn ngày 07 tháng 5 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Đào Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Sĩ S từ ngày 21 tháng 11 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K (Giấy chứng nhận kết hôn số 71). Vợ chồng chung sống đến tháng 02 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, do bất đồng quan điểm sống, anh S lười lao động, thường xuyên uống rượu, không chăm lo kinh tế gia đình, vô trách nhiệm với vợ con, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả nên chị phải về nhà mẹ đẻ ở từ đầu tháng 5 năm 2024 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị xin ly hôn anh S.

Về con chung: Anh chị có 02 con là Nguyễn Sĩ H, sinh ngày 06/8/2003 và Nguyễn Sĩ H1, sinh ngày 12/3/2007, hiện nay cháu H1 đang do chị nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 đến khi cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, vì chị làm nghề công nhân trong công ty, thu nhập trung bình 7 triệu đồng/tháng, có chỗ ở ổn định. Cháu H đã thành niên, đủ khả năng lao động để tự nuôi mình nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Sĩ S trình bày lời khai ngày 28 tháng 6 năm 2024 thống nhất với chị Đào Thị X về thời gian, điều kiện kết hôn, thời gian chung sống hạnh phúc. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không thống nhất trong làm ăn kinh tế. Chị X đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 5 năm 2024 đến nay không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn; anh đồng ý ly hôn chị X.

Về con chung: Anh chị có 02 con như chị X đã trình bày. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng giao cháu H1 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh đề nghị Tòa án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo nguyện vọng của chị X trên cơ sở quy định của pháp luật. Cháu H đã thành niên, đủ khả năng lao động để tự nuôi mình nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, khi Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; anh S vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị X giữ nguyên toàn bộ nội dung, yêu cầu nêu trên.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh S vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, trong đơn vẫn giữ nguyên nội dung, yêu cầu như trước khi xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự; vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đào Thị X, cho chị Đào Thị X được ly hôn anh Nguyễn Sĩ S.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Sĩ H1, sinh ngày 12/3/2007 cho chị Đào Thị X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; chị X không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Cháu Nguyễn Sĩ H, sinh ngày 06/8/2003 đã thành niên, đủ khả năng lao động để tự nuôi mình nên không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí: Chị X phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị X đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Đào Thị X xin ly hôn anh Nguyễn Sĩ S và yêu cầu giải quyết nuôi con tại Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy. Anh S đang cư trú tại xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng; căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ pháp luật về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy.

[2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Anh S là bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh S.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị X xin ly hôn anh Nguyễn Sĩ S; căn cứ vào lời khai của đương sự và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như chính quyền xã K cung cấp thì hôn nhân của chị Đào Thị X và anh Nguyễn Sĩ S là hôn nhân hợp pháp. Thời gian chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn từ đầu năm 2023, do bất đồng quan điểm sống, không thống nhất trong làm ăn kinh tế, anh S lười lao động, thường xuyên uống rượu, không cùng chị X chia sẻ công việc gia đình, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, chị X đã về nhà mẹ đẻ ở từ tháng 5 năm 2024 đến nay, không quan tâm đến nhau cũng như cuộc sống chung gia đình. Mâu thuẫn đã được gia đình, thôn xóm hòa giải nhưng không thành. Như vậy đủ cơ sở xác định hôn nhân của anh chị thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; yêu cầu xin ly hôn của chị X có cơ sở chấp nhận nên xử cho chị X được ly hôn anh S là phù hợp với các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa và ý kiến của anh S.

[4] Về nuôi con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Sĩ H, sinh ngày 06/8/2003 và Nguyễn Sĩ H1, sinh ngày 12/3/2007, hiện nay cháu H1 đang do chị X nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh chị đều thống nhất giao cháu H1 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng; chị X không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai của chị X; ý kiến trình bày của đại diện gia đình chị X, cũng như chính quyền xã K cung cấp thì chị X làm nghề kinh công nhân trong Công ty G, thu nhập trung bình 7.000.000 đồng/1 tháng, có chỗ ở ổn định, đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu H1, từ khi chị X mang cháu H1 về nhà mẹ đẻ ở, chị X nuôi dưỡng cháu H1 rất tốt. Mặt khác nguyện vọng của cháu H1 được ở với chị X nên giao cháu H1 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh S là phù hợp với các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Cháu Nguyễn Sĩ H đã thành niên, đủ khả năng lao động để tự nuôi mình nên không xem xét, giải quyết.

[5] Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[6] Về án phí: Chị Đào Thị X không thuộc trường hợp được miễn, giảm án phí nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi contheo quy định của pháp luật không có giá ngạch.

[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị X được ly hôn anh Nguyễn Sĩ S.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Sĩ H1, sinh ngày 12/3/2007 cho chị Đào Thị X trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Sĩ S. Cháu Nguyễn Sĩ H, sinh ngày 06/8/2003 đã thành niên, đủ khả năng lao động để tự nuôi mình nên không xem xét, giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Sĩ S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về tài sản, công nợ: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  2. Về án phí: Chị Đào Thị X phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007918 ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy. Chị X đã chịu đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Đào Thị X có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Sĩ S có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP Hải Phòng;
  • - VKSND huyện Kiến Thụy;
  • - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Kiến Quốc; huyện Kiến Thụy;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Dịu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger