Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/DS-ST

Ngày 24 tháng 7 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

tín dụng, vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Châu Hùng và ông Nguyễn Văn Thanh.

- Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Quốc Đạt, Thư ký Toà án nhân dân thành

phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thoa, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2024/TLST - DS ngày 01 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 90/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K2, địa chỉ trụ sở chính: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Địa chỉ liên hệ: Số B P, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang; do ông Nguyễn Khoa H đại diện ủy quyền. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Minh K, nơi cư trú: Tổ A, khóm A, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; ông K vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn tại phiên tòa trình bày: Ông Nguyễn Minh K có đề xuất vay vốn tại Ngân hàng TMCP K2 với số tiền 50.000.000 đồng, theo giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K3 số 0002/18/TC/1201/07177 ngày 01/6/2018 với nội dung như sau: Hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng; loại thẻ: VISA CREDIT CLASSIC – KHONG TSBD; thời hạn vay 36 tháng; phương thức trả nợ theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm thẻ quốc tế. Trong quá trình sử dụng dịch vụ thẻ ông K đã vi phạm hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần thông báo, nhắc nhở và khách hàng cũng cam kết nhưng không thực hiện đúng cam kết. Tạm tính đến ngày 10/11/2023, ông K còn nợ Ngân hàng số tiền cụ thể là: Nợ vốn gốc còn lại: 49.906.088 đồng; lãi phát sinh: 30.055.876 đồng; phí phát sinh còn lại:24.389.453 đồng. Nay, Ngân hàng TMCP K2 yêu cầu Tòa án Buộc ông Nguyễn Minh K phải trả cho Ngân hàng số 104.351.417 đồng, trong đó số tiền gốc 49.906.088đồng; Lãi phát sinh 30.055.876đồng; P phát sinh 24.389.453đồng và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 11/11/2023 cho đến ngày thanh toán dứt nợ.

Quá trình giải quyết ông Nguyễn Minh K không cung cấp lời khai.

Tòa án không tiến hành mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được do ông K vắng mặt.

Tại phiên tòa,

Thay mặt Hội đồng xét xử- Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa công bố yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; biên bản xác minh tình trạng cư trú của bị đơn và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án;

- Ý kiến của Kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

+ Về việc tuân theo pháp luật của Thư ký, Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 48 BLTTDS. Xác định thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách pháp lý của các đương sự, thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án và lập hồ sơ đúng theo quy định tại các Điều 195, 196, 198 và Điều 203, 208 BLTTDS năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định Bộ luật Tố tụng dân sự nên đảm bảo được quyền, nghĩa vụ của mình. Riêng, bị đơn không tham gia suốt quá trình tố tụng, xem như tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, thuộc trường hợp xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng, ngày 01/62018 ông Nguyễn Minh K có đề xuất vay vốn tại ngân hàng TMCP K2 theo giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tê K3 số 0002/18/TC/1201-07177 để ông Nguyễn Minh K vay số tiền 50.000.00đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất cho vay theo từng thời kỳ, phương thức thanh toán và điều kiện áp dụng theo quy định của ngân hàng về sản phẩm thẻ tín dụng. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông K đã vi phạm nghĩa vụ trở nợ vốn, tiền lãi và phí khi đến hạn, mặt dù ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông K trả nợ là có căn cứ chấp nhận;

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 91; 95 và 100 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 7, 8 Nghị quyết số 01 ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao; buộc ông Nguyễn Minh K trả số tiền vốn lãi còn nợ tính đến hết ngày 10/11/2023: 104.351.417đồng (vốn gốc 49.906.088đồng; lãi 30.055.876đồng; phí phát sinh 24.389.453đồng) và tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 11/11/2023 đến ngày thanh toán xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

[1] Thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vay tài sản với bị đơn là ông Nguyễn Minh K có nơi cư trú tại thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Minh K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà K1.

Về nội dung:

[3] Thấy rằng Ngân hàng TMCP K2 với ông Nguyễn Minh K đã ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K3 số 0002/18/TC/1201/07177 ngày 01/6/2018 để ông K được sử dụng thẻ tín dụng quốc tế với số tiền vay hạn mức thẻ: 50.000.000 đồng; loại thẻ: VISA CREDIT CLASSIC – KHONG TSBD, thời hạn 36 tháng; quá trình thực hiện hợp đồng ông K đã vi phạm, mặt dù được ngân hàng nhắc nhở nhiều lần về việc thực hiện hợp đồng đã giao kết, nhưng ông K vẫn không thực hiện. Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Minh K vắng mặt không cung cấp lời khai về việc vay tiền, sử dụng vốn vay....Theo biên bản xác minh Công an phường C cho biết ông Nguyễn Minh K sinh sống tại tổ G, khóm A, phường C, thành phố C;

Xét, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông K nhưng ông K không tham gia suốt quá trình tố tụng, không có phản hồi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xem như tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Hợp đồng tín dụng hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K3 số 0002/18/TC/1201/07177 ngày 01/6/2018 giữa ngân hàng TMCP K2 với ông Nguyễn Minh K được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, hình thức và nội dung hợp đồng không trái quy định của pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng.

[4] Về vốn vay, tiền lãi, phí phát sinh: Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K3 số 0002/18/TC/1201/07177 ngày 01/6/2018 giữa Ngân hàng TMCP K2 với ông K, thì ngân hàng cho ông Nguyễn Minh K đã vay 50.000.000 đồng với hình thức vay sử dụng thẻ tín dụng quốc tế. Quá trình vay, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế ông K không thực hiện việc trả nợ theo thỏa thuận đã được giao kết trong hợp đồng tín dụng là vi phạm nghĩa vụ của bên vay. Do đó, Ngân hàng TMCP K2 khởi kiện yêu cầu ông K có trách nhiệm trả vốn vay, tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng đã giao kết là phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 và khoản 2 Điều 95 và Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng, xét chấp nhận yêu cầu khỏi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Minh K cho Ngân hàng TMCP K2 104.351.417đồng (vốn gốc 49.906.088đồng; lãi 30.055.876đồng; phí phát sinh 24.389.453đồng);

“Kể từ ngày 11/11/2023, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Minh K có trách nhiệm trả vốn và lãi cho Ngân hàng TMCP K2 nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.217.571 (Năm triệu hai trăm mười bảy ngàn năm trăm bảy mươi một đồng);

- Ngân hàng TMCP K2 được chấp nhận yêu cầu kiện nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả tạm ứng án phí cho Ngân hàng TMCP K2 đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, khoản 2 Điều 95 và Điều 100 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP K2.

Buộc ông Nguyễn Minh K trả cho Ngân hàng TMCP K2 số tiền là 104.351.417đồng (vốn gốc 49.906.088đồng; lãi 30.055.876đồng; phí phát sinh 24.389.453đồng) theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K3 số 0002/18/TC/1201/07177 ngày 01/6/2018.

“Kể từ ngày 11/11/2023, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay”.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Minh K phải chịu5.217.571 (Năm triệu hai trăm mười bảy ngàn năm trăm bảy mươi một đồng)

Ngân hàng TMCP K2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ngân hàng số tiền 2.609.000 (hai triệu sáu trăm lẻ chín ngàn đồng) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai 0003197 ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc.

[3] Về quyền kháng cáo:

Ngân hàng TMCP K2 và ông Nguyễn Minh K có quyền kháng cáo trong hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết (bản án tống đạt hợp lệ).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát TPCĐ (2);
  • - Tòa án tỉnh An Giang (1);
  • - Thi hành án DS TPCĐ (1);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản

  • Số bản án: 45/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger