Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 24 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Luân.

Ông Nguyễn Văn Toàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Lâm Tới - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn T (tên gọi khác:Không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982 tại: huyện Y, tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: Bản B, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 06/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn P và bà Lò Thị L; bị cáo có vợ và 03 con. Con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 28/8/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 12 tháng tù giam về tội cướp giật tài sản và 18 tháng về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt là 30 tháng tù giam. Đến ngày 23/8/2004 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định trong bản án (đã được xóa án tích).

Ngày 16/7/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 6 tháng tù giam nhưng được khấu trừ 2 tháng 18 ngày tạm giam về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 điều 248, điểm g khoản 1 điều 48, điều 53 BLHS. Đến ngày 08/12/2009 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của bản án (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Lò Văn V, sinh năm 1992. Trú tại: Bản C, xã Y, huyện Y. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Phùng Thúy H, sinh năm 1972. Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường C, Thị xã D, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Vì Thị L1, sinh năm 1959. Trú tại: Bản C, xã Y, huyện Y. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 08 giờ 25 phút ngày 05/3/2024 tổ công tác Công an xã Y phối hợp với Đội cảnh sát giao thông Công an huyện Y đang làm nhiệm vụ tại bản Chờ Lồng, xã Y thì thấy anh Lò Văn V, sinh năm 1992, trú tại bản Chờ Lồng, xã Y, huyện Y đang đuổi theo một thanh niên đi xe máy màu đỏ chở theo một bao ngô giống để phía trước lườn xe máy đi hướng Y - C và hô “ bắt lấy thằng trộm”. Công an xã Y và Đ Công an huyện Y đã phối hợp truy đuổi và chặn bắt được đối tượng, kiểm tra phát hiện 01 bao ngô giống. Qua làm việc xác định đối tượng tên Lò Văn T, sinh năm 1982, trú tại bản B, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La. T khai nhận vừa lấy trộm 01 bao ngô giống của một gia đình không biết tên tại bản Chờ lồng, xã Y huyện Y, tỉnh Sơn La thì bị gia đình phát hiện và truy đuổi. Xét thấy hành vi trộm cắp bao ngô giống có giá trị trên hai triệu đồng tổ công tác đã tiến hành bắt giữ Lò Văn T và thu giữ vật chứng theo quy định. Vật chứng thu giữ gồm: 01 vỏ bao tải màu xanh; 01 bao ngô giống NK 6253, loại 20kg; 01 xe máy BKS: 26B1 – 653.45 số khung: RLHJC35015Y062490; số máy: JC35E-0062548 màu sơn đỏ đen, xe cũ đã qua sử dụng.

Ngày 05 tháng 3 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Sơn La đã tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định nơi Lò Văn T trộm cắp tài sản là khu vực nhà ở của gia đình anh Lò Văn V, tại bản C, xã Y, huyện Y. Quá trình khám nghiệm không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 06 tháng 3 năm 2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Yêu cầu định giá tài sản đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y định giá đối với 01 bao hạt giống ngô đơn F1 NK6253, khối lượng 20kg.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự số: 08/ĐGTS ngày 07/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Tại thời điểm ngày 5/3/2024, giá trị 01 bao hạt giống ngô đơn F1 NK6253 loại 20kg có giá: 2.460.000 đồng.

Ngày 06/3/2024, gia đình Lò Văn T giao nộp: 01 đăng ký xe máy số 034433 mang tên Phùng Thúy H – SN: 1972 trú tại: Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam. Đăng ký xe máy BKS: 90B1 – 251.67, nhãn hiệu HONDA, loại FUTUREKTMA, Số khung: RLHJC35015Y062490; số máy: JC35E-0062548, xe màu đỏ đen.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lò Văn T khai nhận:

Vào khoảng 07 giờ ngày 05/3/2024, Lò Văn T, sinh năm 1982, trú tại bản B, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La một mình điều khiển chiếc xe máy BKS: 26B1 – 653.45 đi thu mua sắt vụn. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày tại bản Chờ Lồng, xã Y, huyện Y, T có vào nhà anh Lò Văn V, sinh năm 1992 hỏi mua sắt vụn thì có gặp ông Lò Văn H1, sinh năm 1973 là bố đẻ của anh V. Ông H1 nói không có sắt vụn bán nhưng cho T tự nhặt vỏ lon nước, lon bia ở xung quanh nhà. Quá trình tìm nhặt vỏ lon nước, T phát hiện có 01 bao ngô giống dựng ở cạnh cửa chính của nhà anh V. Nhận thấy ông H1 đang làm việc riêng ở khu vực trong bếp, xung quanh nhà không còn ai nên T đã nảy sinh ý định trộm bao ngô mang về sử dụng. Trận lồng một chiếc bao tải màu xanh mang theo từ trước ở bên ngoài bao ngô rồi vác bao ngô đặt lên giá để đồ phía trước xe máy. Trận nổ máy chuẩn bị về thì bị bà Vì Thị L1, sinh năm 1959 là hàng xóm nhà anh V phát hiện truy hô nên T đã điều khiển xe máy bỏ chạy về hướng xã Y - C. Anh Lò Văn V đang làm ngoài vườn nghe thấy tiếng hô hoán nên lấy xe máy đuổi theo T. Đến khoảng 8 giờ 30 phút cùng ngày, khi T về đến địa phận bản C, xã Y thì bị tổ công tác Công an xã Y và Đ – Trật tự Công an huyện Y dừng xe bắt quả tang.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lò Văn V đã nhận lại 01 bao ngô giống và không có yêu cầu đề nghị gì.

Về việc xử lý vật chứng: Đối với 01 bao ngô giống của gia đình anh Lò Văn V. Ngày 19/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã quyết định trả lại tài sản cho anh Lò Văn V quản lý, sử dụng.

Đối với chiếc xe máy thu giữ của Lò Văn T xác định là của chị Phùng Thúy H, sinh năm 1972, trú tại: Tổ dân phố Đ, phường C, thị xã D, tỉnh Hà Nam mua năm 2005, đến tháng 7/2019 xe bị mất trộm nhưng chị H không trình báo cơ quan chức năng. Năm 2022 Trận mua được chiếc xe trên ở tỉnh Hưng Yên nhưng không nhớ của ai, đăng ký xe BKS: 90B1 – 251.67, quá trình sử dụng Trận làm rơi mất biển kiểm soát của xe. Đến đầu năm 2023 chị Giàng Thị S, trú tại bản Tong Tải, xã N, huyện M bị rơi chiếc biển kiểm soát xe máy 26B1 – 653.45 trong quá trình di chuyển, T nhặt được nên đã lắp vào xe của mình để sử dụng. Ngày 31/5/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã chuyển đề nghị của chị H đến Cơ quan CSĐT Công an Thị xã D, tỉnh Hà Nam giải quyết theo thẩm quyền. Đối với biển số xe: 26B1 – 653.45 chị S không có đề nghị gì.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSYC ngày 14/06/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử bị cáo Lò Văn T về tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, thành khẩn khai báo, thống nhất với lời khai nhận trong quá trình điều tra, truy tố.

Tại phiên toà kiểm sát viên thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, điểm h khoản 1 Điều 51; xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 15 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015 tịch thu tiêu hủy vật chứng liên quan bao gồm: 01 chiếc bao tải màu xanh; 01 chiếc biển kiểm soát: 26B1 - 653.45; Trả lại 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTUREKTMA, số khung: RLHJC35015Y062490; số máy: JC35E-0062548, màu sơn đỏ đen; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 034433 mang tên Phùng Thúy H, biển số đăng ký: 90B1 – 251.67 cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thúy H.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với Bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Bị hại không có ý kiến tranh luận, không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

Tại phiên tòa khi được nói lời sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thái độ ăn năn, hối cải về hành vi đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thúy H vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không làm ảnh hưởng hay thay đổi nội dung vụ án, không có yêu cầu bồi thường, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật TTHS 2015, HĐXX vẫn tiếp tục xét xử.

[2] Về tình tiết định tội định khung hình phạt:

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 05/3/2024, biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 05/3/2024, biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 05/03/2024, Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 07/3/2024, các biên bản ghi lời khai nhận của bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, biên bản lấy lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và đều phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05 tháng 3 năm 2024, lợi dụng lúc sơ hở trong quản lý tài sản của gia đình anh Lò Văn V, trú tại bản C, xã Y, huyện Y. Lò Văn T đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt 01 bao ngô giống trị giá 2.460.000₫ (Hai triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng) mục đích mang về để sử dụng. Khi T bỏ chạy cùng tang vật về đến bản C, xã Y, huyện Y thì bị đuổi kịp và bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, có mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Tài sản các bị cáo chiếm đoạt có trị giá dưới 50 triệu đồng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáo Lò Văn T về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 BLHS là hoàn toàn chính xác, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật, không oan sai cho bị cáo. Tại thời điểm thực hiện hành vi của mình bị cáo đã có đầy đủ năng lực, trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm mà bị cáo đã thực hiện.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó không chỉ gây ra thiệt hại về mặt vật chất của người bị hại, mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn đồng thời gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, nên cần xử lý nghiêm bị cáo T hình phạt để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Trong vụ án này, bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Song để thỏa mãn nhu cầu của bản thân với mục đích chiếm đoạt tài sản bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có ý thức che giấu, lén lút, lợi dụng lúc bị hại sơ hở để trộm cắp tài sản. Tuy hành vi của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành, việc bị phát hiện và bắt giữ là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị cáo.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Không có tiền án, tiền sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Hành vi phạm tội của bị cáo gây thiệt hại về tài sản cho bị hại, tuy nhiên thiệt hại không lớn, giá trị tài sản ở mức khởi điểm của quy định về tội trộm cắp, đồng thời hành vi của bị cáo bị phát hiện và bắt giữ ngay, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được trao trả toàn bộ cho bị hại, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 28/8/2002 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 12 tháng tù giam về tội cướp giật tài sản và 18 tháng về tội trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt là 30 tháng tù giam. Đến ngày 23/8/2004 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định trong bản án (đã được xóa án tích).

Ngày 16/7/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xử phạt 6 tháng tù giam nhưng được khấu trừ 2 tháng 18 ngày tạm giam về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 điều 248, điểm g khoản 1 điều 48, điều 53 BLHS. Đến ngày 08/12/2009 chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định của bản án (đã được xóa án tích).

Xét thấy rằng bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa thấp 06/12, trình độ nhận thức và hiểu biết pháp luật còn nhiều hạn chế. Tuy nhiên bị cáo đã từng bị xét xử 02 lần về tội trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản và tội đánh bạc. Sau khi chấp hành án quay trở về địa phương bị cáo không tu chí làm ăn, ăn năn hối cải, coi thường pháp luật và tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy cần căn cứ vào nhân thân, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để có hình phạt tương xứng, nhằm nghiêm khắc trừng phạt, cải tạo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành pháp luật và giữ nghiêm tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa đã làm rõ bị cáo là người dân tộc thiểu số, không có công việc và thu nhập ổn định, không có tài sản gì có giá trị lớn vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và xét xử người bị hại đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt đồng thời không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, việc bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật vì vậy HĐXX không xem xét về trách nhiệm dân sự.

[7] Về vật chứng: Đối với vật chứng liên quan bao gồm: 01 chiếc bao tải màu xanh; 01 chiếc biển kiểm soát: 26B1 - 653.45; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTUREKTMA, số khung: RLHJC35015Y062490; số máy: JC35E-0062548, màu sơn đỏ đen; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 034433 mang tên Phùng Thúy H, biển số đăng ký: 90B1 – 251.67.

Xét thấy đối với 01 chiếc bao tải màu xanh đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47, BLHS điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối 01 chiếc biển kiểm soát: 26B1 – 653.45 do chị Giàng Thị S không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTUREKTMA, số khung: RLHJC35015Y062490; số máy: JC35E-0062548, màu sơn đỏ đen; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 034433 mang tên Phùng Thúy H, biển số đăng ký: 90B1 – 251.67. Đây là tài sản hợp pháp bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị Thúy H2. Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường C, Thị xã D, tỉnh Hà Nam. Cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, 332 BLTTHS 2015.

[10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.

[11] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38, điểm s, điểm h khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.

    Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.

    Xử phạt bị cáo Lò Văn T 12 (Mười hai tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/03/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy các vật chứng liên quan bao gồm: 01 chiếc bao tải màu xanh. 01 chiếc biển kiểm soát: 26B1 - 653.45.

    Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị Thúy H2; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe FUTUREKTMA, số khung: RLHJC35015Y062490; số máy: JC35E-0062548, màu sơn đỏ đen; 01 giấy đăng ký xe mô tô số 034433 mang tên Phùng Thúy H2, biển số đăng ký: 90B1 – 251.67.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng số 40/BB-CCTHADS ngày 17/6/2024 giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm a Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Bị cáo Lò Văn T phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 24/7/2024. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Yên Châu;
  • - Công an huyện Yên Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - CCTHA Dân sự;
  • - Sở TP;
  • - Bị cáo; Bị hại, NCQLNVLL;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cầm Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lò Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger