|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày: 24/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Tấn Lãm
- Ông Nguyễn Văn Hậu
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Hoa – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Hoàng T, sinh năm: 2001; nơi sinh: Bình Thuận; Nơi đăng ký HKTT: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn L, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1977; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 10/05/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; nhân thân: Ngày 07/6/2023 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam quy đổi bằng 08 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại bị can phải chấp hành là 09 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ theo bản án số 06/2024/HSST ngày 11/01/2024. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 18/01/2024 đến nay.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Hoàng N, sinh năm 1997, nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện B (Có mặt).
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Quang L1, sinh năm 2001, nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B (Vắng mặt);
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1986, nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện B (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 17/01/2024 Lê Hoàng T và Ngô Xuân H đang ngồi chơi với nhau. Lúc này do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T rủ H ra thị xã P, tỉnh Bình Phước mua ma túy về cùng sử dụng thì H đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93H1-276.32 chở H đến khu vực gần Bến xe T thuộc thị xã P thì dừng xe lại và nói H đứng ở ngoài đường trông giữ xe, còn T đi vào quán cà phê gặp người đàn ông tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 300.000 đồng ma túy đá và xin 01 cái nỏ (mục đích về để chế tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy), rồi đi ra chỗ H đang đợi. Khi ra đến nơi T đưa ma túy cho H cầm rồi điều khiển xe mô tô chở H về nhà T ở thôn C, xã P, huyện B. Tại đây, T lấy 01 chai nhựa hiệu Number1 màu vàng và 01 cái nỏ mới xin từ Mập rồi chế tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Sau đó, T lấy ma túy từ H bỏ vào bộ dụng cụ rồi H sử dụng ma túy. Lúc này, Nguyễn Quang L1 đi đến nhà T chơi, thấy T và H đang sử dụng ma túy thì L1 vào cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì H ra về; còn T và L1 ngồi chơi game và sử dụng ma túy đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện B kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Thu giữ tang vật gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế (gồm: 01 chai nhựa Number1 màu vàng, nắp màu xanh có đục 02 lỗ; 01 lỗ gắn dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh, một đầu hình móc câu bên trong có 01 ít chất rắn màu đục, một đầu gắn với đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 lỗ gắn 01 đoạn ống hút màu xanh); 01 bật lửa ga và 01 xe mô tô biển kiểm soát 93H1-276.32 (bút lục: 34-35; 47-65).
Kết quả xét nghiệm ma túy ngày 18/01/2024 tại Trung tâm y tế huyện B xác định Nguyễn Quang L1, Lê Hoàng T đều dương tính với chất ma túy (bút lục: 69-72).
Kết luận giám định số: 164/KL-KTHS ngày 30/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất màu nâu vàng (ký hiệu M) bám dính trong ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. H1 lại sau giám định: Không (Bút lục: 33).
Bản cáo trạng số 31/CT-VKSBGM ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Lê Hoàng T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Hoàng T và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 155, điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoàng T từ 07 năm đến 08 năm tù. Đề nghị tổng hợp hình phạt 09 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ theo bản án số 06/2024/HSST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chai nhựa hiệu Number 1 màu vàng, nắp màu xanh đục 02 lỗ (01 lỗ gắn đoan ống hút nhựa màu xanh và 01 lỗ gắn dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh); 01 cái bật lửa ga là dụng cụ sử dụng ma túy. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
Đối với 01 xe mô tô loại Future màu đen, biển kiểm soát 93H1-276.32: Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên của Lê Hoàng N – sinh năm: 1997 (trú tại thôn C, xã P, huyện B) cho Lê Hoàng T mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 17/01/2024 T điều khiển xe mô tô trên đi mua ma túy thì N không biết, nên cần trả lại xe cho N.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng có ý kiến như sau:
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng N khai: Tôi và Lê Hoàng T là anh em ruột, chiếc xe mô tô loại Future màu đen, biển kiểm soát 93H1-276.32 là xe của tôi mua năm 2019. Do tôi đi làm ở huyện P nên có để chiếc xe mô tô ở nhà, ngày 17/01/2024 T lấy xe sử dụng vào việc đi mua ma túy về sử dụng thì tôi không biết. Sau này, được cơ quan điều tra thông báo thì tôi mới biết, chiếc xe hiện đang bị thu giữ. Nay tôi xin được trả lại chiếc xe này cho tôi sử dụng làm phương tiện đi lại làm việc.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của các bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Do muốn có ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên ngày 17/01/2024 Lê Hoàng T ra khu vực gần Bến xe T thuộc thị xã P mua 300.000 đồng ma túy của một người đàn ông tên M (không rõ nhân thân lai lịch), sau đó thì đem về nhà của T tại thôn C, xã P rồi cùng với Ngô Xuân H, Nguyễn Quang L1 sử dụng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo với những quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do bị cáo là người nghiện ma túy, muốn có ma túy sử dụng nên vẫn thực hiện tội phạm. Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình, làm lan tràn tệ nạn ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, sức khỏe con người, nòi giống dân tộc, bị dư luận lên án. Vì vậy cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa tội phạm và cảm hóa, giáo dục người phạm tội.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- Về tính tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự về việc sử dụng trái phép chất ma túy và bị xử phạt đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng bị cáo chưa chấp hành. Ngoài ra bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo bản án số 06/2024/HSST ngày 11/01/2024. Đến ngày 17/01/2024 bị cáo lại tiếp tục phạm tội, thể hiện bị cáo coi thường pháp luật, không có sự ăn năn hối cải. Hiện nay bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ nên cần tổng hợp hình phạt còn lại.
[5] Xét về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đ1 điện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng và không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chai nhựa hiệu Numberl màu vàng, nắp màu xanh đục 02 lỗ (01 lỗ gắn đoan ống hút nhựa màu xanh và 01 lỗ gắn dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh); 01 cái bật lửa ga là dụng cụ sử dụng ma túy. Xét thấy không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 xe mô tô loại Future màu đen, biển kiểm soát 93H1-276.32: Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên của Lê Hoàng N – sinh năm: 1997 (trú tại thôn C, xã P, huyện B) cho Lê Hoàng T mượn để làm phương tiện đi lại. Ngày 17/01/2024 T điều khiển xe mô tô trên đi mua ma túy thì N không biết, nên cần trả lại xe cho N.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 38, 50, 55, 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 07 (B) năm tù. Tổng hợp hình phạt 09 tháng 06 ngày cải tạo không giam giữ theo bản án số 06/2024/HSST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước, bị cáo đã chấp hành được 12 ngày cải tạo không giam giữ, thời gian còn lại 08 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ tương đương với 02 tháng 28 ngày tù. Hình phạt chung bị cáo phải chấp hành là 07 (Bảy) năm 02 (Hai) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 chai nhựa hiệu Numberl màu vàng, nắp màu xanh đục 02 lỗ (01 lỗ gắn đoan ống hút nhựa màu xanh và 01 lỗ gắn dụng cụ sử dụng ma túy bằng thủy tinh); 01 cái bật lửa ga.
- - Trả lại cho ông Lê Hoàng N 01 xe mô tô loại Future màu đen, biển kiểm soát 93H1-276.32.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0008896, ký hiệu D47/2017 ngày 15/5/2024)
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Hoàng T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng Thương
