|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 24-5-2024
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Tím
Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chế Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.
Trong ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09/5/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Thạch Thị Sâm N, sinh năm 1993.
Địa chỉ: ấp B, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: ông Kim Ngọc R, sinh năm 1989
Địa chỉ: ấp X, xã N, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02/10/2023, nguyên đơn bà Thạch Thị Sâm N trình bày: Vào năm 2011 bà xác lập hôn nhân với ông Kim Ngọc R, đến ngày 23/11/2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, thường xuyên cự cãi nhau, ông R có tính ghen tuông vô cớ đánh đập xúc phạm danh dự nhân phẩm bà rất nhiều lần. Bà cố chịu đựng và khuyên ông R nhưng ông R vẫn không sửa đổi, đến nay không còn tiếng nói chung bỏ mặc nhau mạnh ai nấy sống, mẫu thuẫn giữa vợ chồng đến mức trầm trọng không thể hàn gắn nên bà quyết định ly hôn. Từ tháng 01 năm 2018 vợ chồng không chung sống với nhau như vợ chồng cho đến nay. Trước đó vào ngày 27/02/2018 bà có làm đơn
khởi kiện xin ly hôn, nhưng thời điểm đó ông Kim Ngọc R không có ở địa phương nên ngày 26/9/2018 Tòa án nhân dân huyện Trà Cú ra quyết định số: 108/2018/ QÐST- HNGĐ đình chỉ giải quyết vụ án. Qua quá trình chung sống vợ chồng bà có con chung, tài sản chung, nợ chung như sau:
- - Về con chung: Có 02 con tên Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Thị Mỹ L, sinh ngày 08/9/2014. Hiện các con do bà chăm sóc nuôi dưỡng.
- - Về tài sản chung: Không có.
- - Về nợ chung: Không có.
Nay bà yêu cầu ly hôn với ông Kim Ngọc R, về con chung bà nhận nuôi cả hai người con, không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn, ông Kim Ngọc R đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Kim Ngọc R vắng mặt không lý do. Bà Thạch Thị Sâm N có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử; Tòa án triệu tập ông Kim Ngọc R tham gia phiên tòa ngày 09/5/2024 và phiên tòa hôm nay nhưng ông Kim Ngọc R vẫn vắng mặt không lý do nên không có lời khai.
Ý kiến của cháu Kim Thị Mỹ T và cháu Kim Thị Mỹ L tại bản tự khai ngày 17/01/2024: Nếu cha mẹ ly hôn thì nguyện vọng của các cháu là được sống chung với mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Thủ tục xét xử vắng mặt tất cả đương sự: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt cho bị đơn ông Kim Ngọc R các văn bản tố tụng từ khi thụ lý, thông báo về các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án theo quy định tại Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đồng thời, nguyên đơn bà Thạch THị Sâm N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 227 và 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả các đương sự.
[2] Về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Xét thấy bà Thạch Thị Sâm N và ông Kim Ngọc R kết hôn vào năm 2011 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh, tại giấy chứng nhận kết hôn số 113/2011 ngày 23 tháng 11 năm 2011 nên hôn nhân giữa bà Thạch Thị Sâm N và ông Kim Ngọc R là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân xin ly hôn theo trình bày của bà Thạch Thị Sâm N là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, thường xuyên cự cãi nhau, ông R có tính ghen tuông vô cớ đánh đập xúc phạm danh dự nhân phẩm bà rất nhiều lần. Từ tháng 01 năm 2018 vợ chồng không chung sống với nhau cho đến nay. Trước đó, vào ngày 27/02/2018 bà Thạch Thị Sâm N có làm đơn khởi kiện xin ly hôn nhưng thời điểm đó
ông Kim Ngọc R không có ở địa phương nên ngày 26/9/2018 Tòa án nhân dân huyện Trà Cú ra quyết định số: 108/2018/QÐST- HNGĐ Đình chỉ giải quyết vụ án.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà Thạch Thị Sâm N và ông Kim Ngọc R đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng phát sinh mâu thuẩn từ năm 2018, bà Thạch Thị Sâm N đã nộp đơn xin ly hôn nhưng thời điểm đó ông Kim Ngọc R không có ở địa phương nên Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết, tuy nhiên từ năm 2018 đến nay bà N và ông R vẫn không hàn gắn được chứng tỏ tình cảm vợ chồng đã thật sự rạn nứt, khó có thể hàn gắn được. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Thạch Thị Sâm N về việc yêu cầu ly hôn với ông Kim Ngọc R là phù hợp.
[3] Về con chung: Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Thị Mỹ L, sinh ngày 08/9/2014, sau khi bà N và ông R ly thân thì cháu Mỹ T và cháu Mỹ L sống chung với bà N cho đến nay. Xét thấy việc bà N yêu cầu được tiếp tục nuôi con là phù hợp với nguyện vọng của cháu Mỹ T và cháu Mỹ L nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Bà N tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung: Bà Thạch Thị Sâm N không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Bà Thạch Thị Sâm N xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Bà Thạch Thị Sâm N phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35, Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 238, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Chấp nhận cho bà Thạch Thị Sâm N được ly hôn với ông Kim Ngọc R.
- Giao con chung là Kim Thị Mỹ T, sinh ngày 01/6/2011 và Kim Thị Mỹ L, sinh ngày 08/9/2014 cho bà Thạch Thị Sâm N tiếp tục nuôi, ông Kim Ngọc R không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Kim Ngọc R không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản, đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được chung sống với bà Thạch Thị Sâm N. Vì lợi ích của con, đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc cấp dưỡng sau khi ly hôn.
- Về án phí: Bà Thạch Thị Sâm N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000
đồng theo biên lai thu tiền số 0001628 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh nên bà Sâm N không phải nộp tiếp.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Duyên |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con
