Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24/4/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thùy Trinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch;

Ông Đinh Xuân Dậu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 969/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ánh T, sinh năm 1980; cư trú tại: Số C, thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa;

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1977; cư trú tại: Số C, thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 16/10/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh T trình bày:

Sau thời gian quen biết, tìm hiểu; bà và ông Nguyễn Văn D tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T (cũ), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60/BM ngày 27/11/1998. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến đầu năm 2015 giữa bà và ông D phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn tìm được tiếng nói chung. Nguyễn nhân mâu thuẫn là do bà T phát hiện ông D nghiện ma túy, hay chơi bời; mặc dù bà và gia đình hai bên đã khuyên bảo nhưng ông D không thay đổi khiến cho đời sống vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi. Ông D cũng không chăm lo đến cuộc sống gia đình, không quan tâm và nuôi dạy con chung. Bà và ông D cũng không còn chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

+ Về con chung: Bà và ông D có 02 con chung là Nguyễn Đức H, sinh ngày 28/7/2000 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 02/01/2009. Sau ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Gia H1; Tạm thời, không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Nguyễn Đức H hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

+ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về nợ chung: Không có.

- Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tuy nhiên, bị đơn ông Nguyễn Văn D vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và chứng cứ, tài liệu có liên quan về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Phần phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa:

+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật. Thẩm quyền giải quyết vụ án, việc thu thập chứng cứ, thời hạn giải quyết vụ án, gửi hồ sơ và tống đạt các văn bản tố tụng và xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý đến khi xét xử là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

+ Về đường lối giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; cho bà T, ông D được ly hôn. Về con chung, giao cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 02/01/2009 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu ; Tạm thời, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con; cháu Nguyễn Đức H hiện nay đã thành niên, có khả năng lao động đầy đủ nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

1.1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh T khởi kiện tranh chấp ly hôn, bị đơn ông Nguyễn Văn D có nơi cư trú tại số C, thôn B, ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên xác định bà T là nguyên đơn, ông D là bị đơn và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Văn D đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T, ông D.

[2] Về nội dung:

2.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh T và ông Nguyễn Văn D tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân xã B, huyện T (cũ), tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 60/BM ngày 27/11/1998 nên quan hệ hôn nhân giữa bà T, ông D là hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, bà T trình bày thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó giữa ông, bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống do ông D nghiện ma túy, ông D cũng không chăm lo, quan tâm đến cuộc sống gia đình, con cái; vợ chồng thường xuyên cãi vã. Ông, bà đã không còn chung sống với nhau từ năm 2015 đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn đến Tòa án làm việc nhưng ông D không có mặt; Tòa án cũng đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông D; Tuy nhiên, ông D không cung cấp văn bản trình bày ý kiến và tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, có đủ cơ sở xác định hôn nhân của bà Nguyễn Thị Ánh T và ông Nguyễn Văn D đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được; Do đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị Ánh T và ông Nguyễn Văn D được ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

2.2 Về con chung: Có 02 con chung là Nguyễn Đức H, sinh ngày 28/7/2000 và Nguyễn Gia H1, sinh ngày 02/01/2009. Sau ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Gia H1, sinh ngày 02/01/2009, còn cháu Nguyễn Đức H, sinh ngày 28/7/2000 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; không yêu cầu ông D phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét yêu cầu của bà T, nguyện vọng của con chung và sự cần thiết của việc đảm bảo sự phát triển ổn định của trẻ; căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao con chung là Nguyễn Gia H1, sinh ngày 02/01/2009 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Nguyễn Đức H, hiện đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét.

2.3 Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

2.4 Về nợ chung: Nguyên đơn trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh T với bị đơn ông Nguyễn Văn D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ánh T được ly hôn với ông Nguyễn Văn D;

2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Gia H1, sinh ngày 02/01/2009 cho bà Nguyễn Thị Ánh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời, ông D không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn D có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ánh T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được tính từ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007570 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà Nguyễn Thị Ánh T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

4. Thi hành bản án của Tòa án: Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy tại Điều 2, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30.

5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H. Trảng Bom;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự H. Trảng Bom;
  • - UBND xã Bình Minh, H. Trảng Bom;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Thùy Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ánh T với bị đơn ông Nguyễn Văn D về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger