|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HSST
Ngày: 24/04/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Đình Lâm
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Dũng
- 2. Ông Nguyễn Thế Anh
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đặng Hồng Phong- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2024/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn L; Tên gọi khác : Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 22 tháng 4 năm 1981, tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm1957; Anh chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Hoàng Thị H1, sinh năm 1984; Con: có 05 người, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/12/2023 đến ngày 13/12/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến:
+ Hoàng Kim H2, sinh năm 1965.
Nơi cư trú: Xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 11 năm 2023, Nguyễn L nảy sinh ý định mua các nguyên vật liệu về để sản xuất pháo nổ nhằm mục đích sử dụng vào dịp ên đán"tết nguyên đán nên L sử dụng tài khoản facebook có tên là: “Linh Đan” của L nhắn tin đến tài khoản có tên là: “Hóa chất ba miền” của một người đàn ông không quen biết để hỏi mua KCLO3, lưu huỳnh và bột than thì người này đồng ý. Sau khi thống nhất giá cả với nhau, L đồng ý và bảo người đó bán cho L 03 kg (ba kiôgam) lưu huỳnh, 05 kg (năm kilôgam) KCLO3 và 15 kg (mười lăm kilôgam) bột than rồi gửi về địa chỉ của L tại xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Khoảng một tuần sau, L đang ở nhà thì có một người phụ nữ là nhân viên giao hàng đến và giao cho L 03 hộp cát tông bên trong có chứa các nguyên vật liệu mà L đã đặt mua. Lịnh nhận hàng và trả cho người phụ nữ số tiền 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) rồi đem số hàng đó vào nhà kho của mình để cất dấu. Đến chiều ngày 04/12/2023, L lấy 05 gói bột than, 02 gói lưu huỳnh, và 03 gói KCLO3 trộn đều với nhau rồi dùng cối, chày, sàng, kéo, giấy, keo dán 502 và khoan để sản xuất pháo nổ. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi L đang sản xuất pháo nổ thì bị tổ công tác Công an huyện D kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại nền nhà kho của Lịnh 03 gói ni lông màu vàng bên trong chứa tổng cộng 66 khối hình trụ nhiều màu sắc, mỗi khối có kích thước (10x3,8) cm, ở giữa có gắn một sợi dây nhiều màu sắc nghi là pháo nổ tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng, lập biên bản bắt quả tang rồi dẫn giải Nguyễn L về trụ sở Công an huyện D để tiếp tục điều tra, làm rõ.
Vào hồi 17 giờ 50 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Nguyễn L tại xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình khám xét, thu giữ tại nền nhà kho của Lịnh 10 gói ni lông màu trắng có đặc điểm giống nhau, bên trong mỗi gói có chứa chất bột màu đen nghi là bột than, 01 gói ni lông màu vàng bên trong có chứa chất bột màu vàng nghi là lưu huỳnh, 02 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là KCLO3, 27 tờ giấy A4 nhiều màu sắc, 06 vỏ hộp nhựa màu trắng, 01 chậu nhựa màu xanh đã qua sử dung, 01 sàng nhựa cầm tay màu hồng đã qua sử dụng, 01 muỗng nhựa màu trắng đã qua sử dụng, 01 kéo kim loại, 01 khoan điện và 48 cục giấy hình trụ nhiều màu sắc (bút lục 37, 38).
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 04/12/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D xác định:
- + 66 khối hình trụ nhiều màu sắc thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn L có tổng khối lượng 7,838 kg (bảy phẩy tám ba tám kilôgam) (ký hiệu từ M1 đến M3).
- + 10 gói ni lông màu trắng có đặc điểm giống nhau, bên trong mỗi gói có chứa chất bột màu đen nghi là than có tổng khối lượng 10 kg (mười kilôgam) (ký hiệu từ M4 đến M13).
- + 01 gói ni lông màu vàng bên trong có chứa chất bột màu vàng nghi là lưu huỳnh có tổng khối lượng là 1, 659 (một phẩy sáu năm chín kilôgam) (ký hiệu M14).
- + 02 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là KCLO3 có tổng khối lượng là 2,92 kg (hai phẩy chín hai kilôgam) (ký hiệu M15, M16).
Tại Kết luận giám định số 298/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 09/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- - 3 (ba) mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3 gửi tới giám định đều là pháo, đều thuộc loại pháo nổ.
- - 10 (mười) mẫu vật ký hiệu từ M4 đến M13 gửi giám định đều là bột than.
- - Mẫu vật ký hiệu M14 gửi giám định là lưu huỳnh.
- - 2 (hai) mẫu vật ký hiệu M15 và M16 gửi giám định đều là tiền chất thuốc nổ kali clorat (KCLO3).
Tại bản cáo trạng số: 66/CT-VKS-DC ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Nguyễn L về tội: “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 190 BLHS. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử.
Căn cứ điểm c khoản 1, Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn L mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội "Sản xuất hang cấm" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) thùng cát tông bên trong có chứa 51 (năm mươi mốt) khối pháo có đặc điểm giống nhau, có tổng khối lượng 6,175 (sáu phẩy một trăm bảy mươi lăm kilôgam) và bao bì niêm phong ban đầu sau khi gửi giám định.
- - 01 thùng giấy cát tông bên trong có chứa 9,5 kg (chín phẩy năm kilôgam) bột than, 1,609 kg (một phẩy sáu không chín kilôgam) lưu huỳnh, 2,82 kg (hai phẩy tám hai kilôgam) Kali Clorat (KCLO3) và bao bì niêm phong ban đầu sau khi gửi giám định.
Số vật chứng trên trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện D.
- - 01(một) thùng giấy cát tông bên trong có chứa 27 (hai mươi bảy) tờ giấy A4 nhiều màu sắc, 06(sáu) vỏ hộp nhựa màu trắng nhãn hiệu keo dán Đức A 502, 01(một) chậu nhựa màu xanh đã qua sử dụng, 01(một) sàng nhựa cầm tay màu hồng đã qua sử dụng, 01(một) muỗng nhựa màu trắng đã qua sử dụng, 01 (một) kéo kim loại đã qua sử dụng, 01( một) khoan điện cầm tay và 48 (bốn mươi tám) cục giấy hình trụ nhiều màu sắc.
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu oppo A9 màu xanh, số imei 1: 860028040544579, số imei 2: 860028040544561, đã qua sử dụng.
Số vật vật chứng trên đang được quản lý tại kho vật chứng Chi Cục thi hành án huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK67 ngày 25/3/2024 giữa Cơ quan Công an huyện D và Chi Cục thi hành án huyện Diễn Châu.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn L phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận tại phiên tòa.
Bị cáo không có tranh luận gì chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đó được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng đầu tháng 11 năm 2023, thông qua trang mạng xã hội facebook, Nguyễn L đã đặt mua các nguyên vật liệu gồm: bột than, lưu huỳnh và K1 (KCLO3) với giá 1.250.000 đồng (một triệu hai trăm năm mươi nghìn) về để sản xuất pháo nổ. Đến khoảng 16 giờ 15 phút ngày 04/12/2023, khi L đang có hành vi sản xuất pháo nổ tại nhà kho của mình thuộc xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an huyện D kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ 7,838 kg (bảy phẩy tám ba tám kilôgam) pháo nổ, 10 kg (mười kilôgam) bột than, 1,659 (một phẩy sáu năm chín kilôgam) lưu huỳnh, 2,92 kg (hai phẩy chín hai kilôgam) kali chorat (KCLO3) và một số công cụ, phương tiện có liên quan.
Hành vi trên đây của bị can Nguyễn L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1, Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát huyện D đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ pháp luật.
[3]. Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hành hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, lưu thông, kinh doanh. Vì vậy cần phải xử lý hình sự và răn đe phòng ngừa chung tội phạm.
[4]. Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, quá trình điều tra và tại phiên tòa luôn khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ được tặng Huy hiệu Chiến sỹ T. Bởi vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 BLHS để xét xử cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục là phù hợp, gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án treo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét bị cáo không có tài sản gì để đảm bảo cho việc thi hành án. Xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) thùng cát tông bên trong có chứa 51 (năm mươi mốt) khối pháo có đặc điểm giống nhau, có tổng khối lượng 6,175 (sáu phẩy một trăm bảy mươi lăm kilôgam) và bao bì niêm phong ban đầu sau khi gửi giám định.
- - 01 thùng giấy cát tông bên trong có chứa 9,5 kg (chín phẩy năm kilôgam) bột than, 1,609 kg (một phẩy sáu không chín kilôgam) lưu huỳnh, 2,82 kg (hai phẩy tám hai kilôgam) Kali Clorat (KCLO3) và bao bì niêm phong ban đầu sau khi gửi giám định.
Số vật chứng trên trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện D.
- - 01(một) thùng giấy cát tông bên trong có chứa 27 (hai mươi bảy) tờ giấy A4 nhiều màu sắc, 06(sáu) vỏ hộp nhựa màu trắng nhãn hiệu keo dán Đức A 502, 01(một) chậu nhựa màu xanh đã qua sử dụng, 01(một) sàng nhựa cầm tay màu hồng đã qua sử dụng, 01(một) muỗng nhựa màu trắng đã qua sử dụng, 01 (một) kéo kim loại đã qua sử dụng, 01( một) khoan điện cầm tay và 48 (bốn mươi tám) cục giấy hình trụ nhiều màu sắc.
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu oppo A9 màu xanh, số imei 1: 860028040544579, số imei 2: 860028040544561, đã qua sử dụng.
Số vật vật chứng trên đang được quản lý tại kho vật chứng Chi Cục thi hành án huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK67 ngày 25/3/2024 giữa Cơ quan Công an huyện D và Chi Cục thi hành án huyện Diễn Châu.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[7]. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời gian quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 BLHS 2015.
Xử phạt bị cáo: N (Mười hai) tháng tù về tội "Sản xuất hàng cấm" nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn L cho UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án treo.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2, Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) thùng cát tông bên trong có chứa 51 (năm mươi mốt) khối pháo có đặc điểm giống nhau, có tổng khối lượng 6,175 (sáu phẩy một trăm bảy mươi lăm kilôgam) và bao bì niêm phong ban đầu sau khi gửi giám định.
- - 01 thùng giấy cát tông bên trong có chứa 9,5 kg (chín phẩy năm kilôgam) bột than, 1,609 kg (một phẩy sáu không chín kilôgam) lưu huỳnh, 2,82 kg (hai phẩy tám hai kilôgam) Kali Clorat (KCLO3) và bao bì niêm phong ban đầu sau khi gửi giám định.
Số vật chứng trên trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện D.
Tịch thu tiêu hủy: 01(một) thùng giấy cát tông bên trong có chứa 27 (hai mươi bảy) tờ giấy A4 nhiều màu sắc, 06(sáu) vỏ hộp nhựa màu trắng nhãn hiệu keo dán Đức A 502, 01(một) chậu nhựa màu xanh đã qua sử dụng, 01(một) sàng nhựa cầm tay màu hồng đã qua sử dụng, 01(một) muỗng nhựa màu trắng đã qua sử dụng, 01 (một) kéo kim loại đã qua sử dụng, 01( một) khoan điện cầm tay và 48 (bốn mươi tám) cục giấy hình trụ nhiều màu sắc.
Tịch thu sung công 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu oppo A9 màu xanh, số imei 1: 860028040544579, số imei 2: 860028040544561, đã qua sử dụng.
Số vật vật chứng trên đang được quản lý tại kho vật chứng Chi Cục thi hành án huyện D theo biên bản giao nhận vật chứng và phiếu nhập kho số 24NK67 ngày 25/3/2024 giữa cơ quan Công an huyện D và Chi Cục thi hành án huyện Diễn Châu.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136 BLTTHS 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đình Lâm |
Bản án số 45/2024/HSST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội sản xuất hàng cấm
- Số bản án: 45/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Sản xuất hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
