|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/DS-ST
Ngày: 23-8-2024
“V/v tranh chấp quyền sử
dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nước
- Ông Phạm Phi Long
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 120/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; (có mặt)
- - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1963; (có mặt)
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1963; (có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 06/10/2023 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà có thửa đất 561, tờ bản đồ số 5, diện tích 740m², toạ lạc ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do bà đứng tên giây chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguồn gốc thửa đất này là của cha mẹ chồng là ông Nguyễn Văn M và bà Phan Thị T1 đã cho vợ chồng bà khoảng 30 năm, đến năm 2011 chồng bà chết đã để lại thửa đất này cho bà và bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất 561 của bà nằm giáp ranh và liền kề với thửa đất số 560 của vợ chồng bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Văn K. Trong quá trình sử dụng thì bà C và ông K đã trồng nhiều cây cối lấn ranh sang thửa 561 của bà. Nay bà yêu cầu ông K và bà C phải trả lại diện tích lấn chiếm theo kết quả đo đạc thực tế là 12,7m², thuộc thửa đất số 561, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn K trình bày: Vợ chồng ông có thửa đất số 560, diện tích 1.230m², giáp ranh với thửa đất 561 của bà Nguyễn Thị T. Nguồn gốc thửa đất 560 này là của vợ chồng ông nhận chuyển nhượng lại từ ông Dương Công L vào khoảng năm 1986, còn thửa đất của bà T có nguồn gốc là của cha mẹ chồng bà T để lại, bà T không có ở trên thửa đất này mà chỉ có cây tạp, sau này có trồng chuối. Từ khi vợ chồng ông nhận chuyển nhượng thửa đất 560 của ông L thì đã bắt đầu trồng cây để làm ranh giới giữa hai thửa đất như dừa, cau, xà cừ, gừa, những loại cây này đều trên 20 năm tuổi. Phần diện tích đất tranh chấp này vợ chồng ông đã sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng đến bây giờ. Nay bà T khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông trả lại đất thì ông không đồng ý.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị C có cùng ý kiến với ông Nguyễn Văn K.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung vụ án: Bà T yêu cầu bà C trả lại diện tích 46m² (diện tích thực đo là 12,7m²) nằm trong tổng diện tích 740m², tờ 5, thửa 561 tọa lạc tại ấp G, xã D, thị xã D, do bà T đứng tên là không có cơ sở. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và Công văn số 2182/UBND-NC ngày 16/7/2024 của Ủy ban nhân dân thị xã D, có cơ sở xác định diện tích 12,7m² đang tranh chấp giữa bà T và bà C là do bà T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên tổng diện tích 740m² là không đúng với hiện trạng thực tế phần diện tích bà đang sử dụng vì trong diện tích bà được cấp giấy có cả phần đất mà vợ chồng bà C trồng cây và đã sử dụng ổn định hơn 20 năm, việc này bà T cũng thừa nhận và cho rằng hàng cây này vợ chồng bà C đã trồng trên 20 năm, cũng theo Công văn số 2182 nêu trên thì việc cấp giấy chứng nhận theo tư liệu địa chính năm 1998 đối với thửa 560, 561 là chưa bảo đảm vị trí, kích thước và diện tích nên việc giải quyết tranh chấp ranh giới sử dụng đất giữa thửa 560, 561 Ủy ban nhân dân thị xã D có ý kiến là nên căn cứ vào thực tế quá trình, thời gian sử dụng đất của các bên theo quy định của pháp luật về đất đai. Vì vậy không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ. Về án phí, chi phí tố tụng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của đương sự; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy: Theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D thì diện tích đất tranh chấp thực tế là 12,7m² nằm trong thửa đất số 561, tờ bản đồ số 5, ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh do bà Nguyễn Thị T đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3] Qua xem xét thẩm định tại chỗ xác định được trong diện tích đất tranh chấp 12,7m² thì hiện trạng tại cạnh hướng Nam của phần đất có một hàng rào bằng lưới B40 do bà T tự dựng lên và có nhiều cây lâu năm như cau kiểng, cây gừa, cây xà cừ do ông K, bà C trồng sát bên hàng rào. Ngoài ra còn có một phần đất khác không có tranh chấp cũng do ông K, bà C sử dụng từ trước đến nay và có hàng cây dừa hơn 20 năm tuổi làm ranh giới với đất của bà T, phần đất này cũng nằm trong thửa 561 của bà T.
[4] Mặt khác, kết quả đo đạc thực tế còn cho thấy thửa 560 của ông K, bà C; thửa 561 của bà T và đường Quốc lộ 53B đều lệch về hướng Nam so với hình thể thửa đất theo tài liệu năm 1998. Để làm rõ vấn đề này Tòa án đã đề nghị Ủy ban nhân dân thị xã D kiểm tra lại, theo đó tại Công văn số 2182/UBND-NC ngày 16/7/2024 của Ủy ban nhân dân thị xã D có ý kiến thể hiện: Trong thực hiện đo đạc bản đồ thành lập hồ sơ địa chính năm 1996, phương pháp lập bản đồ địa chính sử dụng ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa để lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1:5000 trên toàn khu vực xã D. Khu vực thửa đất 560, 561 và toàn bộ khu vực đất nằm trong phạm vi tờ không ảnh phục vụ đo vẽ không đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật; kết quả đo thực tế và tư liệu đo đạc năm 1998 cho thấy ảnh bị “dạt”, “lệch” theo phương ngang dẫn đến việc sai lệch về vị trí và kích thước trong ảnh so với thực địa; khi đo đạc trực tiếp, đơn vị đo đạc không đo kiểm tra thực tế nên khi scan, vẽ vào bản đồ địa chính dẫn đến sai sót. Đối với loại sai sót này không thể căn cứ vào tư liệu địa chính để xác định ranh giới sử dụng đất của các bên và Ủy ban nhân dân thị xã xác định trường hợp cấp Giấy theo tư liệu địa chính năm 1998 đối với thửa đất số 560, 561 là chưa bảo đảm về vị trí, kích thước và diện tích nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho thửa 560, 561 cần được thu hồi, hủy bỏ theo quy định. Việc giải quyết tranh chấp ranh giới sử dụng đất giữa thửa đất số 560 và 561 Ủy ban nhân dân thị xã có ý kiến là nên căn cứ vào thực tế quá trình, thời gian sử dụng đất của các bên theo quy định của pháp luật về đất đai để xem xét.
[5] Như vậy, thực tế cho thấy diện tích đất tranh chấp 12,7m² từ trước đến nay đều do bà C và ông K sử dụng, ranh giới đất giữa hai bên cũng đã tồn tại một hàng cây lâu năm như cau, gừa và xà cừ, đồng thời bà T cũng dựng lên một đoạn hàng rào sát với hàng cây này. Mặc dù diện tích tranh chấp nằm trong thửa đất số 561 của bà T nhưng qua kết quả kiểm tra của Ủy ban dân thị xã D thì việc cấp giấy chứng nhận thửa 561 cho bà Nguyễn Thị T trên cơ sở tài liệu đo đạc năm 1998 là có sự sai sót về vị trí và kích thước.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng bà Nguyễn Thị T yêu cầu bà Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Văn K trả lại phần đất diện tích 12,7m² là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, do bà T là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên không phải nộp án phí sơ thẩm.
[8] Về chi phí tố tụng gồm trích lục địa chính, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng cộng là 1.774.000 đồng, do yêu cầu không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị T phải chịu và đã nộp đầy đủ, bà T được nhận lại tiền tạm ứng còn thừa.
[9] Xét quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 175 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Điều 26 Luật đất đai năm 2024;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T.
Giao cho ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị C được tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích 12,7m², thuộc thửa đất số 561, tờ bản đồ số 5, đất ở ấp G, xã D, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Kèm theo Bản án là sơ đồ khu đất ngày 29/12/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D (đất tranh chấp là phần A trong sơ đồ).
2. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T.
3. Về chi phí tố tụng là 1.774.000 đồng, bà Nguyễn Thị T phải chịu và đã nộp đầy đủ; trả lại cho bà T tiền tạm ứng chi phí tố tụng còn thừa là 1.226.000 đồng.
4. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Tài |
Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 45/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
