Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 45/2024/DS-ST

Ngày: 23/7/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Hiếu Trung;
  2. Ông Nguyễn Văn Kim;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 132/2024/TLST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 159/2024/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: ông Lê Văn T, sinh năm: 1963;
  2. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: 1. Ông Kim Thành V, sinh năm: 1967;
  4. 2. Bà Lê Hồng L, sinh năm: 1976;
  5. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 16 tháng 5 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày:

Ngày 04/7/2023, vợ chồng ông V, bà L đến nhà ông T hỏi vay số tiền 70.000.000 đồng; lãi suất thỏa thuận 2%/tháng; thời gian vay là 08 tháng hẹn đến ngày 04/3/2024 trả hết vốn và lãi. Lãi thỏa thuận trả hàng tháng vào ngày 04 đến khi đến thời hạn trả vốn.

Ông V, bà L đã trả tiền lãi cho ông được 03 tháng là 4.200.000 đồng. Sau thời gian đó đến nay không trả tiền lãi theo thỏa thuận nữa. Ông V, bà L cho rằng không còn khoản nào để trả cho ông.

Đến hẹn trả vốn là ngày 04/3/2024, ông V, bà L cũng không trả tiền vốn là 70.000.000 đồng cho ông như đã thỏa thuận.

Nay, ông T yêu cầu ông V và bà L có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền là 70.000.000 đồng và tiền lãi, bắt đầu tính lãi từ ngày 05/10/2023 tạm tính đến ngày 04/5/2024 là 8.134.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất 1,66%; tiền lãi tính đến ngày 17/6/2024 là 9.870.000 đồng.

Tại bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Kim Thành V, bà Lê Hồng L trình bày:

Ông V và bà L là vợ chồng. Ông bà thừa nhận có nợ của ông T số tiền vay là 70.000.000 đồng. Do đang gặp khó khăn về tài chính ông V, bà L đồng ý trả tiền vốn cho ông T là 70.000.000 đồng, không đồng ý trả tiền lãi theo yêu cầu của ông T.

Tại phiên tòa, ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý yêu cầu của ông V, bà L yêu cầu ông không tính lãi vì ông V, bà L đã nợ ông quá lâu. Tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 70.000.000 đồng x 09 tháng 19 ngày x 1,66%/tháng = 11.190.000 đồng.

Ông V, bà L đồng ý trả tiền vốn cho ông T nhưng yêu cầu ông T tính lãi suất thấp vì ông bà không còn khả năng để trả lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngày 16/5/2024, ông Lê Văn T khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Kim Thành V và bà Lê Hồng L trả số tiền vay là 70.000.000 đồng, tiền lãi bắt đầu tính từ ngày 05/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm, tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 9.870.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi đến khi xét xử sơ thẩm theo lãi suất 1,66%/tháng. Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463 Bộ luật dân sự. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu của ông T yêu cầu ông V, bà L trả số tiền 70.000.000 đồng và tiền lãi:

Theo ông T: ngày 04/7/2023, vợ chồng ông V, bà L hỏi ông T vay số tiền 70.000.000 đồng; lãi suất thỏa thuận 2%/tháng; thời gian vay là 08 tháng hẹn đến ngày 04/3/2024 trả hết vốn và lãi. Lãi thỏa thuận trả hàng tháng vào ngày 04 đến khi đến thời hạn trả vốn. Ông V, bà L đã trả tiền lãi cho ông được 03 tháng là 4.200.000 đồng. Sau thời gian đó đến nay không trả tiền lãi theo thỏa thuận nữa. Đến hẹn trả vốn là ngày 04/3/2024, ông V, bà L cũng không trả tiền vốn là 70.000.000 đồng cho ông. Ông T khởi kiện yêu cầu ông V và bà L trả số tiền vay là 70.000.000 đồng, tiền lãi bắt đầu tính từ ngày 05/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của ông T là Giấy hợp đồng mượn tiền ngày 04/7/2023 (bản sao không có chứng thực), Biên bản hòa giải ngày 12/4/2024 của Tổ hòa giải ấp T, xã T (bản sao không có chứng thực), ngoài ra không còn chứng cứ nào khác.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T: ông V và bà L xác định có nợ của ông T số tiền 70.000.000 đồng và đồng ý trả cho ông T số tiền nợ nêu trên. Ông V, bà L không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Xét thấy, tại biên bản hòa giải ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc và tại phiên tòa, ông V, bà L thừa nhận có vay của ông T số tiền 70.000.000 đồng và đến nay còn nợ của ông T số tiền này. Lời thừa nhận của ông V và bà L là chứng cứ ông T không cần phải chứng minh. Ngoài ra, ông V, bà L cũng đồng ý trả cho ông T số tiền nợ vốn 70.000.000 đồng nên ghi nhận.

Ông V, bà L đồng ý với mức lãi suất và thời gian tính lãi từ ngày 05/10/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là 09 tháng 19 ngày nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông bà yêu cầu ông T không tính lãi; tại phiên tòa, ông V, và L đồng ý trả tiền lãi cho ông T nhưng với lãi suất thấp hơn. Tuy nhiên, ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện không thay đổi. Xét thấy, ông T yêu cầu ông V và bà L trả tiền lãi với mức lãi suất áp dụng và thời gian tính lãi như đã nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự nên được chấp nhận. Ông V, bà L phải có trách nhiệm trả tiền lãi cho ông T là 70.000.000đ x 1,66% x 09 tháng 19 ngày = 11.194.000 đồng nhưng ông T chỉ yêu cầu ông V, bà L trả 11.190.000 đồng nên ghi nhận.

Như vậy, tổng cộng số tiền vốn và lãi ông V và bà L phải có trách nhiệm trả cho ông T là: 70.000.000 đồng + 11.190.000 đồng = 81.190.000 đồng.

Ông V, bà L là vợ chồng và cùng xác định ông bà cùng vay của ông T 70.000.000 đồng nêu trên. Tại phiên tòa, ông V và bà L đồng ý có trách nhiệm liên đới trả cho ông T số nợ này là phù hợp với quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: ông V, bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 4.059.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 463, 468 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Buộc ông Kim Thành V và bà Lê Hồng L phải có trách nhiệm liên đới trả cho ông Lê Văn T số tiền còn nợ là 81.190.000đ (Tám mươi mốt triệu một trăm chín mươi ngàn đồng). Trong đó: tiền gốc là: 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng); tiền lãi là: 11.190.000đ (Mười một triệu một trăm chín mươi ngàn đồng).
  2. Về án phí: ông Kim Thành V và bà Lê Hồng L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 4.059.000đ (Bốn triệu không trăm năm mươi chín ngàn đồng).
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Chi cục THA DS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trung

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 45/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T tranh chấp HĐ vay Kim Thành V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger