TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 22/7/2024.
“V/v Ly hôn.”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Xuôi.
- Ông Nguyễn Thành Công.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: ông Thạch Ươn, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Nhanh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 302/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024, về việc: “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 95/2024/QÐST - HNGĐ ngày 01 tháng 07 năm 2024, và quyết định hoãn phiên tòa số: 103/2024/QÐST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm:1979(có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
2. Bị đơn : anh Cao Văn Đ, sinh năm 1982(vắng mặt không lý do).
Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2024, và bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Trước đây vào năm 2002, do tự tìm hiểu quen biết với anh Cao Văn Đ, sau đó dẫn đến tổ chức cưới nhau, đến ngày 17/12/2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh, sau ngày cưới vợ chồng chị sống rất hạnh phúc, và có 01 con chung tên Cao Quang P, sinh ngày16/03/2003 đã trưởng thành, nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn tình cảm vợ chồng, là do anh Đ thường xuyên cờ bạc, ăn nhậu không quan tâm đến vợ con, và sống ly thân nhau từ năm 2010 cho đến nay.
Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không thể sống chung được, nên chị làm đơn yêu cầu được ly hôn với anh Cao Văn Đ, về con chung: cháu Cao Quang P, sinh ngày16/03/2003 đã trưởng thành nên không đặt ra vấn đề nuôi và cấp dưỡng.
Về tài sản chung; không có, nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: không có, nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Do chị bận công việc làm ăn xa, chị không đến dự phiên tòa được, nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt chị.
Bị đơn anh Cao Văn Đ : Vắng mặt không có lý do, nên không có bản tự khai.
Qua biên bản xác minh của bà Huỳnh Thị T1 là mẹ ruột của anh Cao Văn Đ sống chung nhà với anh Cao Văn Đ, bà cho biết Đ là con ruột của bà theo bà biết Đ và T hai đứa tự tìm hiểu quen biết nhau, sau đó bà đứng ra tổ chức đám cưới cho 02 đứa vợ chồng Đ và T sống với nhau có 01 con chung tên Cao Quang P, sinh ngày 16/3/2003 hiện cháu P đã trưởng thành và đi làm tại Thành Phố Hồ Chí Minh, về tài sản chung bà thấy không có, và nợ chung thì bà không nghe vợ chồng thiếu ai, hiện nay Đol đi chạy xe tải thuê cho chủ ở Thành phố V, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn của vợ chồng Đ với T là do hai đứa làm 02 nơi khác nhau T làm ở chợ B còn Đ chạy xe tải ở Vũng Tàu nên chúng nó xa mặt cách lòng và sống ly thân hơn một năm nay, hôn nhân hai đứa tự quyết định bà không có ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án, cho đến trước thời điểm nghị án, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định tại Điều 48, Điều 70; 71;72 của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chị Nguyễn Thị T đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt, còn bị đơn anh Cao Văn Đ, Toà án triệu tập nhiều lần, nhưng anh không chấp hành theo giấy triệu của Tòa án, nên không có bản tự khai, và không có yêu cầu cụ thể, tại phiên tòa xét xử hôm nay anh Đ vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do.
Về nội dung vụ án:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; 35; 39; 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng: các Điều 19, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
Về hôn nhân: cho chị T được ly hôn với anh Cao Văn Đ
Về con chung: 01 người - Cao Quang P, sinh ngày 16/03/2003 đã trưởng thành không yêu cầu nên không xem xét.
Về tài sản chung: không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết
Về án phí: chị Nguyễn Thị T chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Chị Nguyễn Thị T và anh Cao Văn Đ xác lập quan hệ hôn nhân, và có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào ngày 17 tháng 12 năm 2002 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh đúng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình sống chung chị Nguyễn Thị T với anh Cao Văn Đ có 01 con chung tên Cao Quang P, sinh ngày 16/3/2003 đã trưởng thành, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẩn vợ chồng là do anh Đ thường xuyên cự cải nhau, ăn nhậu sai xỉn đánh đập chị, không lo làm ăn, không lo cuộc sống cho gia đình, bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến ly thân từ năm 2010 cho đến nay.
[2] Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Nguyễn Thị T và anh Cao Văn Đ không có khả năng hàn gắn đoàn tụ được, nên chị Nguyễn Thị T làm đơn xin được ly hôn với anh Cao Văn Đ, về con chung: Cao Quang P, sinh ngày 16/3/2003 đã trưởng thành muốn sống với ai tuỳ cháu.
[3] Đối với anh Cao Văn Đ, Tòa án có triệu tập nhiều lần nhưng anh cố tình vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai cũng như yêu cầu của anh, mặt dù Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án và thông báo việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, và hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, cũng như quyết định hoãn phiên toà của Tòa án cho người thân là mẹ ruột nhận thay và cam kết đưa tận tay anh Đ. Nhưng do anh Đ cố tình vắng mặt xem như anh từ bỏ quyền lợi của anh tại phiên tòa.
[4]Theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định; thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nhưng ở đây hai người sống với nhau được 01 đứa con chung, anh Đ không lo làm ăn xây dựng hạnh phúc gia đình, mà anh thường xuyên nhậu nhẹt về chữi bới, thậm chí còn đánh đập chị. Từ đó, nên chị T quyết định xin ly hôn với anh Đ. Và qua xác minh người thân của anh Đ thì vợ chồng anh không có tạo ra tài sản chung, và nợ chung, chỉ có 01 đứa con chung tên Cao Quang P đã trưởng thành, và hai người sống ly thân nhau đã lâu hơn mười năm.
Từ các cơ sở phân tích trên, thấy rằng mục đích hôn nhân của chị Nguyễn Thị T với anh Cao Văn Đ không đạt được, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ hai người đã sống ly thân nhau từ năm 2010 đến nay. Căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xét thấy việc chị Nguyễn Thị T xin ly hôn với anh Cao Văn Đ, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị T là có căn cứ phù hợp pháp luật.
[5]Về con chung: do cháu Cao Quang P, sinh ngày 16/3/2003 đã trưởng thành, nên cháu muốn sống với ai tuỳ cháu, không đặt ra vấn đề nuôi và cấp dưỡng.
[6]Về tài sản chung, và nợ chung: do chị Nguyễn Thị T khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7]Án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Anh Cao Văn Đ không phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Quan điểm của Vị kiểm sát viên là có căn cứ phù hợp pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 1, Điều 28; Khoản 1 Điều 35; điểm a, Khoản 1, điều 39; Điều 147; Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 238, và Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng: các Điều 19; 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T.
Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Cao Văn Đ.
Về con chung: cháu Cao Quang P, sinh ngày 16/3/2003 đã trưởng thành, nên cháu muốn sống với ai tuỳ cháu, không đặt ra vấn đề nuôi và cấp dưỡng.
Về tài sản, nợ chung: chị Nguyễn Thị T khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm mà chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0004174, ngày 29/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Càng Long. Nên chị T không phải nộp thêm tiền án phí.
Anh Cao Văn Đ không phải chịu tiền án phí hôn nhân sơ thẩm.
Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên Tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b, và điều 9 luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Tâm |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH về ly hôn
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
