trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hoè.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Trần Văn Kiêm.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị D, sinh năm 1985; nơi sinh: Xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy H, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1963; anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là thứ hai; bị cáo có chồng là Bùi Ngọc V1, sinh năm 1971 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/12/2023 đến ngày 05/01/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

- Người làm chứng:

  1. Ông Bùi Ngọc V1, sinh năm 1971;
  2. Chị Bùi Thị V2, sinh năm 1985;
  3. Bà Phạm Thị N, sinh năm 1974;
  4. Anh Mai Đức N1, sinh năm 1986;
  5. Chị Hoàng Thị Đ, sinh năm 1987;
  6. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1994;
  7. Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1969;
  8. Chị Trần Thị C1, sinh năm 1977;
  9. Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1989;
  10. Ông Đinh Văn K, sinh năm 1963;
  11. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1979;
  12. Chị Nguyễn Thị N3, sinh năm 1989;
  13. Bà Lê Thị H2, sinh năm 1965.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tất cả những người làm chứng).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Thị D và chị Nguyễn Thị Minh C là bạn làm ăn. Từ ngày 11/6/2023 đến ngày 10/10/2023, chị C nhiều lần vay tiền của D để buôn bán với lãi suất thỏa thuận là 2.000đồng/1triệu đồng/01 ngày. Ngoài giao dịch trực tiếp, D sử dụng điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 13 ProMax lắp sim số 0388.803.787 cài đặt ứng dụng Zalo đăng nhập tài khoản tên “Phương duyên” và sử dụng tài khoản số 1313131999999 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB); chị C sử dụng điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 Plus lắp sim số 0364.305.329, cài đặt ứng dụng Zalo đăng nhập tài khoản tên “Minh C” và sử dụng 3 số tài khoản Ngân hàng: Số 0831000080403 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N4 (V3 - VCB), tài khoản số 6789336666666 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Q (MB) và tài khoản số 0364305329 mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần H3 (M) để liên hệ và thực hiện các giao dịch chuyển tiền, nhận tiền. Cụ thể:

Ngày 11/6/2023, D cho chị C vay 880.000.000 đồng tiền mặt. Ngày 14/6/2023, D tiếp tục cho chị C vay 250.000.000 đồng (gồm 120.000.000 đồng chuyển khoản và 130.000.000 đồng tiền mặt). Ngày 20/6/2023, D cho chị C vay 500.000.000 đồng (chuyển khoản). Ngày 23/6/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 880.000.000 đồng x 13 ngày x 2.000đồng/triệu/ ngày (từ ngày 11/6/2023 đến ngày 23/6/2023) = 22.880.000 đồng; lãi của khoản vay 250.000.000 đồng x 10 ngày x 2.000đồng/triệu/ngày (từ ngày 14/6/2023 đến ngày 23/6/2023) = 5.000.000 đồng; lãi của khoản vay 500.000.000 đồng x 04 ngày x 2.000đồng/triệu/ngày (từ ngày 20/6/2023 đến ngày 23/6/2023) = 4.000.000 đồng. CChâu chuyển khoản trả cho Duyên số tiền lãi là 31.900.000 đồng (chuyển thừa 20.000 đồng).

Cùng ngày 23/6/2023, chị C chuyển khoản trả cho Duyên số tiền vay gốc là 670.000.000 đồng, còn nợ 960.000.000 đồng. Ngày 30/6/2023, D tính lãi 08 ngày (từ ngày 23/6/2023 đến ngày 30/6/2023) đối với khoản vay gốc kể trên, thu số tiền lãi là 15.360.000 đồng. Ngày 03/7/2023, D cho chị C vay thêm 800.000.000 đồng (chuyển khoản). Tổng cộng, chị C còn nợ D 1.760.000.000 đồng tiền gốc. Ngày 07/7/2023, D yêu cầu chị C trả lãi như sau: Lãi của khoản vay 960.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 30/6/2023 đến ngày 07/7/2023) = 15.360.000 đồng; lãi của khoản vay 800.000.000 đồng x 05 ngày (từ ngày 03/7/2023 đến ngày 07/7/2023) = 8.000.000 đồng. Chị C chuyển khoản trả cho D 23.360.000 đồng tiền lãi. Như vậy, ngày 30/6/2023, D tính tiền lãi 02 lần với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 960.000.000 đồng, thu của C số tiền lãi 3.840.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Tiền lãi hợp pháp là 533.333 đồng; lãi bất hợp pháp là 3.306.667 đồng.

Cùng ngày 07/7/2023, chị C chuyển khoản trả tiền gốc cho D 1.130.000.000 đồng, còn nợ 630.000.000 đồng. Ngày 10/7/2023, D cho chị C vay thêm 1.100.000.000 đồng (chuyển khoản). Tổng cộng, chị C còn nợ Duyên số tiền gốc là 1.730.000.000 đồng. Ngày 14/7/2023, D yêu cầu chị C trả lãi như sau: Lãi của khoản vay 630.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 07/7/2023 đến ngày 14/7/2023) = 10.080.000 đồng; lãi của khoản vay 1.100.000.000 đồng x 05 ngày (từ ngày 10/7/2023 đến ngày 14/7/2023) = 11.000.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả lãi cho Duyên số tiền 21.080.000 đồng. Duyên thu 02 lần lãi của ngày 07/7/2023 với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày đối với khoản vay 630.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 2.520.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 350.000 đồng; lãi bất hợp pháp là 2.170.000 đồng.

Cùng ngày 14/7/2023, chị C chuyển khoản trả Duyên 100.000.000 đồng tiền gốc; D cho chị C vay thêm 30.000.000 đồng (chuyển khoản). Tổng số tiền gốc chị C còn nợ D là 1.660.000.000 đồng. Ngày 21/7/2023, D yêu cầu chị C trả lãi thời gian 08 ngày (từ ngày 14/7/2023 đến ngày 21/7/2023) đối với số tiền gốc còn nợ là 1.660.000.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả lãi theo yêu cầu của Duyên số tiền 26.560.000 đồng. D đã tính 02 lần lãi ngày 14/7/2023 với mức 2.000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 1.630.000.000 đồng, thu số tiền lãi là 6.520.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 905.556 đồng; lãi bất hợp pháp là 5.614.444 đồng.

Cùng ngày 21/7/2023, chị C chuyển khoản trả Duyên 1.000.000.000 đồng tiền gốc đồng thời vay thêm 350.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc chị C còn nợ D tính đến ngày 21/7/2023 là 1.010.000.000 đồng. Ngoài ra, D còn cho chị C vay thêm các lần như sau: Ngày 20/7/2023, vay thêm 900.000.000 đồng; ngày 24/7/2023, vay thêm 70.000.000 đồng; ngày 25/7/2023, vay thêm 1.000.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc C còn nợ của D là 2.980.000.000 đồng. Ngày 28/7/2023, D yêu cầu chị C trả lãi của số tiền 2.980.000.000 đồng, gồm: Lãi của khoản vay 900.000.000 đồng x 09 ngày (từ ngày 20/7/2023 đến ngày 28/7/2023) = 16.200.000 đồng; lãi của khoản vay 1.010.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 21/7/2023 đến ngày 28/7/2023) = 16.160.000 đồng; lãi của khoản vay 70.000.000 đồng x 05 ngày (từ ngày 24/7/2023 đến ngày 28/7/2023) = 700.000 đồng; lãi của khoản vay 1.000.000.000 đồng x 04 ngày (từ ngày 25/7/2023 đến ngày 28/7/2023) = 8.000.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả lãi cho Duyên số tiền 41.060.000 đồng. D đã tính 02 lần lãi của ngày 21/7/2023 với mức 2.000đồng/triệu/ngày bằng 144%/năm đối với khoản vay 660.000.000 đồng, thu số tiền lãi 2.640.000 đồng, trong đó: Lãi hợp pháp là 366.667 đồng; lãi bất hợp pháp là 2.273.333 đồng.

Cùng ngày 28/7/2023, chị C trả cho D 1.000.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ số tiền 1.980.000.000 đồng. Ngày 31/7/2023, D cho chị C vay thêm 1.000.000.000 đồng (chuyển khoản). Tổng số tiền chị C còn nợ D là 2.980.000.000 đồng. Ngày 04/8/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 1.980.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 28/7/2023 đến ngày 04/8/2023) là 31.680.000 đồng; lãi của khoản vay 1.000.000.000 đồng x 05 ngày (từ ngày 31/7/2023 đến ngày 04/8/2023) là 10.000.000 đồng. Chị C chuyển khoản trả cho Duyên số tiền lãi 41.700.000 đồng (trả thừa 20.000 đồng). D đã tính lãi 02 lần vào ngày 28/7/2023 mới mức lãi suất 2.000đồng/triệu/ngày của khoản vay 1.980.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 7.920.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.100.000 đồng; lãi bất hợp pháp là 6.820.000 đồng.

Cùng ngày 04/8/2023, chị C chuyển khoản trả Duyên 1.000.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ gốc là 1.980.000.000 đồng. Ngày 08/8/2023, D cho chị C vay thêm 1.000.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc chị C còn nợ D là 2.980.000.000 đồng. Ngày 11/8/2023, D tính lãi gồm: Lãi của khoản vay 1.980.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023) là 31.680.000 đồng; lãi của khoản vay 1.000.000.000 đồng x 04 ngày (từ ngày 08/8/2023 đến ngày 11/8/2023) là 8.000.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả lãi cho Duyên số tiền 39.680.0000 đồng. D đã thu 02 lần lãi ngày 04/8/2023 với mức lãi suất 2000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 1.980.000.000 đồng, thu số tiền lãi 7.920.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Tiền lãi hợp pháp là 1.100.000 đồng; lãi bất hợp pháp là 6.820.000 đồng.

Cùng ngày 11/8/2023, chị C trả cho D 300.000.000 đồng tiền gốc, (trong đó: 200.000.000 đồng chuyển khoản và 100.000.000 đồng thanh toán tiền mặt), còn nợ gốc là 2.680.000.000 đồng. Ngày 15/8/2023, D cho chị C vay thêm 700.000.000 đồng. Sáng ngày 18/8/2023, D cho chị C vay thêm 1.200.000.000 đồng (trong đó: 1.040.000.000 đồng chuyển khoản và 160.000.000 đồng nhận tiền mặt). Tổng số tiền chị C còn nợ D là 4.580.000.000 đồng. Chiều ngày 18/8/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 2.680.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 11/8/2023 đến ngày 18/8/2023) là 42.880.000 đồng; lãi của khoản vay 700.000.000 đồng x 04 ngày (từ ngày 15/8/2023 đến ngày 18/8/2023) là 5.600.000 đồng; lãi của khoản vay 1.200.000.000 đồng x 01 ngày là 2.400.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả cho D 50.880.000 đồng tiền lãi. D đã thu 02 lần lãi ngày 11/8/2023 với mức lãi suất 2000 đồng/triệu/ngày đối với khoản vay 2.680.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 10.720.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.488.889 đồng; lãi bất hợp pháp là 9.231.111 đồng.

Cùng ngày 18/8/2023, chị C chuyển khoản trả cho D 1.900.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ gốc số tiền 2.680.000.000 đồng. Ngày 22/8/2023, D cho chị C vay thêm 200.000.000 đồng. Ngày 24/8/2023, D cho chị C vay thêm 1.870.000.000 đồng (trong đó: 1.700.000.000 đồng chuyển khoản và 170.000.000 đồng nhận tiền mặt). Tổng số tiền gốc chị C vay của D là 4.750.000.000 đồng. Ngày 25/8/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 2.680.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 18/8/2023 đến ngày 25/8/2023) là 42.880.000 đồng; lãi của khoản vay 200.000.000 đồng x 04 ngày (từ ngày 22/8/2023 đến ngày 25/8/2023) là 1.600.000 đồng; lãi của khoản vay 1.870.000.000 đồng x 02 ngày (từ ngày 24/8/2023 đến ngày 25/8/2023) là 7.480.000 đồng. Chị C chuyển khoản trả lãi cho Duyên số tiền 51.960.000 đồng. D đã thu 02 lần lãi của ngày 18/8/2023 với mức lãi suất 2.000đồng/triệu/ngày của khoản vay 2.680.000.000 đồng, thu số tiền lãi 10.720.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.488.889 đồng; lãi bất hợp pháp là 9.231.111 đồng.

Cùng ngày 25/8/2023, chị C chuyển khoản trả cho D 2.470.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại số tiền gốc 2.280.000.000 đồng. Ngoài ra, D còn cho chị C vay thêm: Ngày 26/8/2023, vay thêm 60.000.000 đồng; ngày 28/8/2023, vay thêm 1.460.000.000 đồng; ngày 29/8/2023, vay thêm 100.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc chị C còn nợ của D là 3.900.000.000 đồng. Ngày 31/8/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 2.280.000.000 đồng x 07 ngày (từ ngày 25/8/2023 đến ngày 31/8/2023) là 31.920.000 đồng; lãi của khoản vay 60.000.000 đồng x 06 ngày (từ ngày 26/8/2023 đến ngày 31/8/2023) là 720.000 đồng; lãi của khoản vay 1.460.000.000 đồng x 04 ngày (từ ngày 28/8/2023 đến ngày 31/8/2023) là 11.680.000 đồng; lãi của khoản 100.000.000 đồng x 03 ngày (từ ngày 29/8/2023 đến ngày 31/8/2023) là 600.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả lãi cho Duyên số tiền 44.920.000 đồng. D đã thu 02 lần lãi của ngày 25/8/2023 với mức lãi suất 2.000đồng/triệu/ngày của khoản vay 2.280.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 9.120.000 bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.266.667 đồng; lãi bất hợp pháp là 7.853.333 đồng.

Số tiền vay 1.560.000.000 đồng (gồm 1.460.000.000 đồng vay ngày 28/8/2023 và 100.000.000 đồng vay ngày 29/8/2023). Đến ngày 31/8/2023, chị C đã trả cho D 660.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại số tiền 900.000.000 đồng và D tính lấy tiền lãi từ ngày 31/8/2023, trong đó 900.000.000 đồng tiền gốc cũ đã thu một lần lãi vào ngày 31/8/2023.

Số tiền vay còn lại gồm: 2.280.000.000 đồng và 60.000.000 đồng, D cho chị C vay thêm 10.000.000 đồng tiền mặt, tổng cộng là 2.350.000.000 đồng. D tiếp tục cho chị C vay để lấy tiền lãi tính từ ngày 31/8/2023, trong đó 2.340.000.000 đồng tiền gốc cũ đã thu một lần lãi vào ngày 31/8/2023.

Ngày 05/9/2023, D yêu cầu chị C trả gốc 900.000.000 đồng và lãi khoản vay 900.000.000 đồng x 06 ngày (tính từ ngày 31/8/2023 đến ngày 05/9/2023) là 10.800.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả cho D 900.000.000 đồng và số tiền lãi 10.800.000 đồng. D đã thu 02 lần lãi ngày 31/8/2023 với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 900.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi là 3.600.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 500.000 đồng; lãi bất hợp pháp là 3.100.000 đồng.

Cùng ngày 05/9/2023, D cho chị C vay thêm 240.000.000 đồng; ngày 06/9/2023, D cho chị C vay thêm 1.200.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền gốc chị C còn nợ D là 3.790.000.000 đồng. Ngày 08/9/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 2.350.000.000 đồng x 09 ngày (từ ngày 31/8/2023 đến ngày 08/9/2023) là 42.300.000 đồng; lãi của khoản vay 240.000.000 đồng x 04 ngày (từ ngày 05/9/2023 đến ngày 08/9/2023) là 1.920.000 đồng; 1 lãi của khoản vay 1.200.000.000 đồng x 03 ngày (từ ngày 06/9/2023 đến ngày 08/9/2023) là 7.200.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả lãi cho Duyên số tiền 51.420.000 đồng. D đã thu 02 lần lãi ngày 31/8/2023 với mức lãi suất 2000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 2.340.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 9.360.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.300.000 đồng; lãi bất hợp pháp là 8.060.000 đồng.

Cùng ngày 08/9/2023, chị C trả cho D 1.000.000.000 đồng tiền gốc, đồng thời, D cho chị C vay thêm 10.000.000 đồng (giao dịch bằng chuyển khoản). Như vậy, tổng số tiền gốc chị C còn nợ của D là 2.800.000.000 đồng. Ngày 11/9/2023, D cho chị C vay thêm 130.000.000 đồng; đến ngày 12/9/2023, chị C đã trả đủ cho D tiền gốc khoản vay này. Ngày 13/9/2023, D cho chị C vay thêm 900.000.000 đồng nên số tiền gốc chị C còn nợ D là 3.830.000.000 đồng. Ngày 15/9/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 2.800.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 08/9/2023 đến ngày 15/9/2023) là 44.800.000 đồng; lãi của khoản vay 130.000.000 đồng x 01 ngày (vay ngày 11/9/2023 và đã trả hết ngày 12/9/2023) là 260.000 đồng; lãi của khoản vay 900.000.000 đồng x 03 ngày (từ ngày 13/9/2023 đến ngày 15/9/2023) là 5.400.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả lãi cho Duyên số tiền 50.460.000 đồng. D đã thu 02 lần lãi ngày 08/9/2023 với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 2.790.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 11.160.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.550.000 đồng; lãi bất hợp pháp là 9.610.000 đồng.

Cùng ngày 15/9/2023, chị C trả cho D 500.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ số tiền gốc 3.200.000.000 đồng. Ngày 18/9/2023, D yêu cầu chị C trả cả gốc và lãi khoản vay 3.200.000.000 đồng trong 04 ngày (từ ngày 15/9/2023 đến ngày 18/9/2023). Chị C đã chuyển khoản trả cho Duyên số tiền 912.000.000 đồng và trả tiền mặt số tiền 13.600.000 đồng. Trong đó: Tiền gốc 900.000.000 đồng; tiền lãi: 25.600.000 đồng; C còn nợ D tiền gốc 2.300.000.000 đồng. D đã thu 02 lần lãi ngày 15/9/2023 với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 3.200.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 12.800.000 bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 177.778 đồng; lãi bất hợp pháp là 11.022.222 đồng.

Ngày 19/9/2023, D chuyển khoản cho chị C vay thêm 40.000.000 đồng. Ngày 21/9/2023, D cho C vay thêm 1.500.000.000 đồng (trong đó: 1.400.000.000 đồng chuyển khoản và 100.000.000 đồng nhận tiền mặt). Như vậy, tổng số tiền Nguyễn Thị D cho chị C vay 3.840.000.000 đồng. Ngày 22/9/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 2.300.000.000 đồng x 05 ngày (từ ngày 18/9/2023 đến ngày 22/9/2023) là 23.000.000 đồng; lãi của khoản vay 40.000.000 đồng x 04 ngày (từ ngày 19/9/2023 đến ngày 22/9/2023) là 320.000 đồng; lãi của khoản vay 1.500.000.000 đồng x 02 ngày (từ ngày 21/9/2023 đến ngày 22/9/2023) là 6.000.000 đồng. Chị C đã chuyển khoản trả lãi cho Duyên số tiền 29.320.000 đồng. D đã thu 02 lần lãi ngày 18/9/2023 với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 2.300.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 9.200.000 bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.277.778 đồng; lãi bất hợp pháp là 7.922.222 đồng.

Cùng ngày 22/9/2023, chị C trả hết cho Duyên số tiền gốc 40.000.000 đồng vay ngày 19/9/2023 và 1.500.000.000 đồng vay ngày 21/9/2023, còn nợ lại số tiền gốc 2.300.000.000 đồng. Đồng thời, D cho chị C vay thêm 100.000.000 đồng tiền mặt, tổng cộng là 2.400.000.000 đồng. Ngày 26/9/2023, D cho chị C vay thêm 350.000.000 đồng. Ngày 27/9/2023, D cho chị C vay thêm 1.600.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền gốc chị C còn nợ D là 4.350.000.000 đồng. Ngày 29/9/2023, D tính lãi như sau: Lãi của khoản vay 2.400.000.000 đồng x 08 ngày (từ ngày 22/9/2023 đến ngày 29/9/2023) là 38.400.000 đồng; 1 lãi của khoản vay 350.000.000 đồng x 04 ngày (từ ngày 26/9/2023 đến ngày 29/9/2023) là 2.800.000 đồng; lãi của khoản vay 1.600.000.000 đồng x 03 ngày (từ ngày 27/9/2023 đến ngày 29/9/2023) là 9.600.000 đồng. Chị C chuyển khoản trả cho Duyên số tiền lãi là 50.800.000 đồng. D đã thu 02 lần lãi ngày 22/9/2023 với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 2.300.000.000 đồng, thu của chị Duyên số tiền lãi là 9.200.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.277.778 đồng; lãi bất hợp pháp là 7.922.222 đồng.

Cùng ngày 29/9/2023, chị C trả cho D 1.900.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại số tiền 2.450.000.000 đồng. D cho chị C vay thêm 140.000.000 đồng. Như vậy, chị C còn nợ Duyên số tiền gốc là 2.590.000.000 đồng. Ngày 06/10/2023, chị C hỏi D vay thêm 2.500.000.000 đồng trong 01 ngày. D yêu cầu chị C phải trả lãi 4.000đồng/1 triệu/1 ngày thì mới cho vay. Sáng 06/10/2023, D chuyển 2.500.000.000 đồng cho chị C. Chiều cùng ngày, chị C đã trả đủ gốc 2.500.000.000 đồng và tiền lãi trong 01 ngày là 10.000.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Tiền lãi hợp pháp là 1.388.889 đồng; lãi bất hợp pháp là 8.611.111 đồng.

Cùng ngày 06/10/2023, D yêu cầu chị C trả cả gốc và lãi khoản vay 2.590.000.000 đồng trong 08 ngày (từ ngày 29/9/2023 đến ngày 06/10/2023), trong đó tiền lãi là 41.440.000 đồng. Chị C đã chuyển số tiền 41.440.000 đồng trả cho D. D đã thu 02 lần lãi ngày 29/9/2023 với mức lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày của khoản vay 2.450.000.000 đồng, thu của chị C số tiền lãi 9.800.000 đồng bằng 144%/năm, trong đó: Lãi hợp pháp là 1.361.111 đồng; lãi bất hợp pháp là 8.438.889 đồng. Chị C trả tiền gốc cho D là 150.000.000 đồng tiền mặt, còn nợ 2.440.000.000 đồng. Sáng 09/10/2023, D cho chị C vay thêm 1.595.000.000 đồng. Ngày 10/10/2023, D cho chị C vay thêm 1.400.000.000 đồng. Tối ngày 10/10/2023, chị C trả tiền gốc cho D là 100.000.000 đồng, còn nợ 1.300.000.000 đồng tiền gốc và chưa trả tiền lãi cho D.

Tính đến ngày 10/10/2023, chị C còn nợ D tổng số tiền là 5.335.000.000 đồng (trong đó: 2.440.000.000 đồng D đã thu tiền lãi và 2.895.000.000 đồng D chưa thu tiền lãi). Từ đó đến nay, giữa Nguyễn Thị Minh C và Nguyên Thị D1 chưa phát sinh thêm giao dịch nào khác.

Tổng số tiền gốc mà Nguyễn Thị D đã cho chị Nguyễn Thị Minh C vay với lãi suất 4.000đồng/1triệu/01 ngày là 5.740.000.000 đồng; Duyên thu của chị C tổng số tiền lãi là 140.880.000 đồng, trong đó: Số tiền lãi hợp pháp là 19.566.667 đồng; số tiền lãi bất hợp pháp là 121.313.333 đồng. Chị C đã trả gốc 3.300.000.000 đồng; còn nợ gốc 2.440.000.000 đồng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị D tại xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, tạm giữ của D2: 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max vỏ màu xanh lắp sim số 0388.803.787 và 01 quyển sổ có bìa màu đỏ, mặt bìa ghi dòng chữ “Châu Giấy biên nhận lâu năm” bên trong gồm các Giấy biên nhận vay tiền. Trong các Giấy biên nhận vay tiền có tên người vay tiền là chị Nguyễn Thị Minh C, lãi suất để trống. Ngày vay, số tiền vay trong các Giấy biên nhận đều phù hợp với lời khai của bị cáo và chị C. Ngoài các giấy biên nhận tên người vay là chị C; trong sổ của bị cáo còn có các giấy biên nhận tên nhiều người vay ở nhiều địa chỉ khác nhau. Làm việc với những người liên quan có tên trong các Giấy biên nhận vay tiền trong quyển sổ thu giữ, Cơ quan điều tra xác định Nguyễn Thị D còn cho những người khác vay, mượn tiền nhưng đều tính lãi suất theo quy định của pháp luật và đã thanh khoản xong cả gốc và lãi.

Cáo trạng số 48/CT-VKSHH ngày 02/05/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Nguyễn Thị D về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 2 Điều 201, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã H giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Đề nghị không không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị áp dụng các biện pháp tư pháp đối với bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng thời xử lý vật chứng đã thu giữ, chưa xử lý trong quá trình điều tra.

Tranh luận tại phiên toà: Bị cáo không tranh luận.

Nói lời sau cùng: Bị cáo công nhận đã thực hiện hành vi như nội dung vụ án đã nêu và hứa sửa chữa lỗi lầm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 11/6/2023 đến 10/10/2023, tại nhà Nguyễn Thị Dở xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, D cho chị Nguyễn Thị Minh C vay nhiều lần với tổng số tiền 5.740.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản và đưa tiền mặt với lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày nhưng dùng thủ đoạn thu 02 lần lãi suất trong 1 ngày của một khoản vay, tương ứng với lãi suất là 4.000 đồng/triệu đồng/ngày bằng 144%/năm cao gấp 7,2 lần mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định, trong các ngày 23/6/2023, 30/6/2023, 07/7/2023, 14/7/2023, 21/7/2023, 28/7/2023, 04/8/2023, 11/8/2023, 18/8/2023, 25/8/2023, 31/8/2023, 08/9/2023, 15/9/2023, 18/9/2023, 22/9/2023, 29/9/2023 và 06/10/2023; thu tổng số tiền lãi 140.880.000 đồng trong đó tiền lãi hợp pháp là 19.566.667 đồng; tiền lãi bất hợp pháp là 121.313.333 đồng. Hành nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

[3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo bị mắc bệnh vảy nến thể mảng, sức khoẻ yếu thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện, thăm khám theo chỉ định của bác sĩ; con nhỏ của bị cáo bị bệnh u não, thường xuyên phải điều trị tại bệnh viện (có hồ sơ bệnh án kèm theo) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo không chỉ xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng mà còn xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, thông qua các giao dịch thông thường, đơn lẻ, không có biện pháp bảo đảm, bất chấp rủi ro mà cho vay số tiền lớn, thu lãi cao, thu lời bất chính. Do đó, để góp phần đấu tranh, loại bỏ tín dụng đen, xét cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt:

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; bản thân và con nhỏ đều mắc bệnh cần phải thăm khám, điều trị thường xuyên nên có thể tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự để bị cáo có cơ hội được chữa bệnh, lao động, cải tạo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và bị cáo tại phiên tòa là phù hợp.

[6] Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét bị cáo D hiện đang là lao động tự do, không thu nhập ổn định; bản thân bị cáo và con nhỏ đều mắc bệnh phải thường xuyên khám và chữa tại bệnh viện nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về áp dụng các biện pháp tư pháp:

Quá trình điều tra, bị cáo và chị Nguyễn Thị Minh C đều xác định: Tổng số tiền vay gốc bị cáo Nguyễn Thị D cho chị Nguyễn Thị Minh C vay với lãi suất 4000 đồng/triệu/ngày là 5.740.000.000 đồng; chị C đã trả cho bị cáo số tiền 3.300.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 2.440.000.000 đồng. Chị C đã trả cho bị cáo tổng số tiền lãi là 140.880.000 đồng, trong đó: Lãi bất hợp pháp là 121.313.333 đồng; lãi hợp pháp là 19.566.667 đồng. Do bản thân bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử buộc chị C phải có nghĩa vụ nộp số tiền vay gốc chưa trả cho bị cáo kể trên sung Ngân sách Nhà nước. Chị C đề nghị được nhận lại số tiền lãi vượt quá đã trả cho bị cáo là 121.313.333 đồng. Xét yêu cầu của bị cáo và chị C là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền lãi hợp pháp 19.566.667 đồng bị cáo nhận từ chị C cần buộc bị cáo phải nộp sung Ngân sách Nhà nước.

[8] Xử lý vật chứng:

Chiếc điện di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, vỏ màu xanh, số IME 358538325070065 bị cáo sử dụng đã để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Sim điện thoại số thuê bao 0388.803.xxx đã thu giữ của bị cáo trong quá trình điều tra không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, lắp sim số 0364.305.329 của Nguyễn Thị Minh C sử dụng để giao dịch với Nguyễn Thị D: Do chị C đã làm mất chiếc điện thoại di động trên trong quá trình tham gia giao thông tại tỉnh Ninh Bình vào tháng 11/2023 nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Quyển sổ có bìa màu đỏ, mặt bìa ghi dòng chữ “Châu giấy biên nhận lâu năm” trong đó biên nhận các giao dịch cho vay giữa bị cáo và chị C, có chữ ký của người vay là chị C. Xét đây cũng là tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần chuyển về Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu để lưu theo hồ sơ vụ án.

[9] Về các vấn đề khác:

Quá trình điều tra xác định: Ngoài số tiền cho vay lãi nặng, Nguyễn Thị D còn cho chị Nguyễn Thị Minh C vay tiền nhiều lần khác với lãi suất từ 1.667 đồng/triệu/ngày đến 2.500 đồng/triệu/ngày (tương dương 60%/năm đến 90%/năm). Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H ra quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại điểm d khoản 4 điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ đối với bị cáo. Ngày 16-02-2024, bị cáo đã nộp phạt số tiền 15.000.000đ tại H4 Chi nhánh huyện H. Các giao dịch liên quan đến số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên không được xử lý trong cùng vụ án. Trường hợp bị cáo và những người liên quan có tranh chấp liên quan đến các khoản tiền trên thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự.

Nguyễn Thị Dcho chị Nguyễn Thị Minh C vay tổng số tiền 2.995.000.000 đồng vào các ngày 09,10/10/2023 với lãi suất 2.000đồng/triệu/ngày nhưng chị C chưa trả tiền lãi, gốc cho D nên không xử lý hành vi này của bị cáo bằng pháp luật.

Trong tổng số tiền bị cáo cho chị C và những người khác vay nợ chỉ có một phần tiền của bị cáo, số còn lại bị cáo huy động từ nhiều nguồn khác nhau trong đó có khoản tiền vay của bà Lê Thị H2. Quá trình điều tra, bị cáo và bà H2 đều không đề nghị giải quyết quan hệ vay nợ nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Ông Bùi Ngọc V1 là chồng của bị cáo D không được bàn bạc, không biết bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông V1 bằng pháp luật là phù hợp.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 2 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị D phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/12/2023 đến ngày 05/01/2024. Giao bị cáo Nguyễn Thị D cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự:
    • - Buộc bị cáo phải trả chị Nguyễn Thị Minh C số tiền 121.313.333 (một trăm hai mươi mốt triệu ba trăm mười ba nghìn ba trăm ba mươi ba đồng) và nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 19.566.667 (mười chín triệu năm trăm sáu mươi sáu nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
    • - Buộc chị Nguyễn Thị Minh C phải nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.440.000.000 (hai tỷ bốn trăm bốn mươi triệu đồng).
    • - Buộc bị cáo Nguyễn Thị D phải nộp sung Ngân sách Nhà nước số tiền 3.300.000.000 đồng (ba tỷ ba trăm triệu đồng).
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, vỏ màu xanh và tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0388.803.xxx của bị cáo Nguyễn Thị D.

    Chuyển 01 quyển sổ có bìa màu đỏ, mặt bìa ghi dòng chữ “Châu giấy biên nhận lâu năm” của bị cáo Nguyễn Thị D về Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định lưu hồ sơ vụ án.

    (Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 08-5-2024).

  4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Nguyễn Thị D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện + tỉnh;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - UBND xã Hải Triều;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ LQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Hòe

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị D phạm Tôi Cho vay lãi nặng theo khoản 2 Điều 201
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger