TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 22-04-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Quốc Kiên
2. Ông Nguyễn Văn Dương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Kim Duy Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 04 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 04 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 10/04/2024, đối với bị cáo:
Lê Ngọc T - Sinh năm 1994
Nơi cư trú: Thôn X, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông Lê Văn K và bà Đỗ Thị T1. Có vợ là Phạm Thị Thanh M. Có 02 con (con nhỏ sinh năm 2018, con lớn sinh năm 2022).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2023 đến 27/12/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N. Có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Lê Văn H, sinh năm 1986, địa chỉ: TK A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 02 giờ ngày 21/12/2023, Tổ công tác Công an thị xã N làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn K, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa tiến hành kiểm tra hành chính đối với bị cáo Lê Ngọc T. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi quần bên phải của T có 01 túi nilon màu trắng bên trong có 03 viên nén hình lục giác và 01 túi nilon màu trắng chứa các hạt tinh thể màu trắng. Lê Ngọc T khai nhận 03 viên nén màu trắng là ma túy kẹo, các hạt tinh thể màu trắng trong túi nilon màu trắng là ma túy loại Ketamine, T tàng trữ để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Ngọc T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ, niêm phong số ma túy và 01 điện thoại di động của T để phục vụ công tác điều tra.
Tại kết luận giám định số 4651/KL-KTHS, ngày 25/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- 03 viên ném màu trắng hình lục giác thu giữ của Lê Ngọc T nêu trên là ma túy, có tổng khối lượng 1,321 gam, loại: MDMA;
- Các hạt tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Ngọc T nêu trên là ma túy, có tổng khối lượng 0,702 gam, loại: Ketamine.
Cũng trong quá trình điều tra xác định, ngoài hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị bắt quả tang nêu trên, thì trước đó vào ngày 19/12/2023 tại cánh đồng thuộc thôn X, xã T, huyện T, Lê Ngọc T còn có hành vi sử dụng trái phép ma túy đá. Cơ quan điều tra đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Lê Ngọc T, kết quả dương tính với M1 (ma túy đá) nên Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an thị xã N để xem xét xử lý vi phạm hành chính đối với Lê Ngọc T theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 51/CT-VKSNS ngày 14/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lê Ngọc T từ 21 đến 24 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, vì vậy đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ ma tuý là vật chứng sau giám định. Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A10 của bị cáo là công cụ phương tiện để bị cáo liên lạc mua ma túy về sử dụng nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tự bào chữa và tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận:
Hồi 02 giờ ngày 21/12/2023, tại thôn K, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Lê Ngọc T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,321 gam MDMA và 0,702 gam Ketamine mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác Công an thị xã N phát hiện, bắt quả tang.
Căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì:
- Tỉ lệ phần trăm về khối lượng MDMA Lê Ngọc T tàng trữ để sử dụng so với mức tối thiểu đối với loại ma tuý MDMA được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: 1,321/5 x 100% = 26,42%.
- Tỉ lệ phần trăm về khối lượng Ketamine Lê Ngọc T tàng trữ để sử dụng so với mức tối thiểu đối với loại ma tuý Ketamine được quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: 0,702/20 x 100% = 3,51%.
Như vậy, tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng các chất ma túy Lê Ngọc T tàng trữ để sử dụng so với mức tối thiểu các chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 26,42% + 3,51% = 29,93%, dưới 100%. Do đó, hành vi của Lê Ngọc T phạm vào điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định của Phòng K1 Công an Tỉnh T và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa.
Quyết định truy tố của VKSND Thị xã Nghi Sơn và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[3] Về tính chất và mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Ketamin và MDMA là chất ma túy có khả năng gây nghiện rất nhanh, chỉ dùng một vài lần, con người sẽ bị lệ thuộc, khi không có ma túy để sử dụng, người nghiện sẽ lên cơn vật vã, đau đớn có thể làm mọi việc bất chấp vi phạm pháp luật để có tiền mua ma túy sử dụng. Chính vì vậy, nhà nước ta độc quyền quản lý chất ma túy, mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Hành vi tàng trữ trái phép ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước và gây mất trật tự trị an xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo, bị cáo có ông bà nội là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương lao động và kỷ niệm chương thanh niên xung phong - Là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự qui định "Người phạm tội còn có thể phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản". Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Toàn bộ số ma tuý sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
- Chiếc điện thoại S Galaxy A10 của bị cáo là công cụ phương tiện bị cáo sử dụng để gọi điện mua ma túy về sử dụng, nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối Lê Ngọc Thanh;
Điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Mục 1 phần I, Điểm b Tiểu mục 1.3 Mục 1 phần II Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt:
Lê Ngọc T 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ toàn bộ ma tuý là vật chứng sau giám định đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K1 Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh T2, Trần Thị Thúy H1, Phạm Văn T3 và các hinh dầu của Phòng K1 Công an tỉnh T bên trong có toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 02 viên nén màu trắng hình lục giác có tổng tổng khối lượn 0,883gam( không phẩy tám tám ba gam) (kết quả giám định MDMA); 0,659gam các hạt tinh thể màu trắng ( kết quả giám định là Ketamine).
- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 phong bì được dán kín, niêm phong bởi chữ ký, chữ viết ghi rõ họ tên Lê Ngọc B, Lê Ngọc T, Cao Văn M2 và các hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã N bên trong chứa 01 điện thoại di động nhân hiệu Sam Sung Galaxy A10, màu đen, số Imeil 357966105060116; số Imei2 357967105060114, bên trong lắp sim số thuê bao 091.989.956 và 0369.597.196.
Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Nghi Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa và Chi cục thi hành án dân sự Thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa (theo phiếu nhập kho số NK2024/69).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |
HỘI THẨM NHÂN DÂN Bùi Quốc Kiên Nguyễn Văn Dương | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Lê Ngọc T 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2023.
