Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 22-4-2024

V/v "Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương

Các Thẩm phán:

1/ Bà Đặng Thị Bích Loan

2/ Bà Đoàn Thị Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Tây – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Đào Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 22 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 24/2024/TLPT-HNGĐ ngày 26/2/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 805/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1687/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Tống Vạn L, sinh năm 1986 (có yêu cầu xét xử vắng mặt).

Địa chỉ: 6 đường T, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hiếu T, sinh năm 1987.

Địa chỉ: 8 N, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Hiếu T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn ông Tống Vạn L trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Hiếu T tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 211/2010 ngày 13/12/2010 của Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà H N, Phường C, quận P Thành phố Hồ Chí Minh hạnh phúc được mấy năm sau đó phát sinh mâu thuẫn do quan niệm sống, cách nhìn nhận cuộc sống, dạy dỗ con không phù hợp. Mặc dù hai bên cố gắng hàn gắn và hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng cả hai vẫn không thể giải quyết được mâu thuẫn khi sống chung nhà vì vậy ông và bà T đã ly thân, không còn chung sống một nhà. Hai bên cắt đứt mọi liên lạc, không còn trao đổi được với nhau mọi vấn đề chung trong gia đình như nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Tháng 7 năm 2022 ông L nộp đơn xin ly hôn với bà T sau đó đã rút đơn để hàn gắn nhưng quan hệ vợ chồng không cải thiện. Sau nhiều lần cố gắng hòa giải để đoàn tụ nhưng không thành, không đạt được mục đích của hôn nhân nên ông L yêu cầu tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.

Về con chung: Ông và bà T có 02 con chung tên là Tống Thế N (nam), sinh ngày 14/5/2015 và Tống Thế B ( nam), sinh ngày 11/12/2018. Ông L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung và không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp Tòa án giao hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng thì ông đồng ý và tự nguyện cấp dưỡng cho mỗi con 5.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bị đơn bà Nguyễn Thị Hiếu T trình bày: Bà T vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án và không có lời khai.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 805/2023/HNGĐ-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Tống Vạn L đối với bà Nguyễn Thị Hiếu T. Ông Tống Vạn L được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hiếu T.
  2. Về con chung: Có 02 con chung là Tống Thế N (nam), sinh ngày 14/5/2015 và Tống Thế B (nam), sinh ngày 11/12/2018.

Chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của ông L. Giao hai con chung là Tống Thế N và Tống Thế B cho ông L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.Ghi nhận sự tự nguyện của ông L không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền nghĩa vụ của cha mẹ với con chung sau khi ly hôn, quyền kháng cáo và thi hành án của các đương sự theo qui định của pháp luật.

Ngày 31/10/2023, bà Nguyễn Thị Hiếu T có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung đề nghị xem xét lại việc nuôi dưỡng con chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn ông Tống Vạn L có đơn ngày 17/4/2024 yêu cầu được xét xử vắng mặt và trình bày: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm về chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa ông với bà T, về con chung ông đồng ý giao 02 con chung Tống Thế N, Tống Thế B cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng/con/tháng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Hiếu T đồng thời là người kháng cáo trình bày:

Bà và ông Tống Vạn L không chung sống với nhau từ tháng 6/2022, hai con chung đang sống cùng bà T. Bà T đồng ý ly hôn với ông L, chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con như ông L đưa ra trên, về tài sản chung và nợ chung bà đồng ý tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu:

Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật. Về hình thức đơn kháng cáo của bà T trong hạn luật định nên hợp lệ. Về nội dung kháng cáo: ông L và bà T có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, nay hai bên đồng ý ly hôn là không trái luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận;

Về con chung, bà T kháng cáo yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, ông L vắng mặt nhưng có văn bản trình bày đồng ý giao hai con chung cho bà T nuôi dưỡng, hai bên đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con như ông L đưa ra là 5.000.000đ/con/tháng; tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận nên không xét. Việc thỏa thuận nuôi con của đương sự không trái luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà T, sửa một phần bản án sơ thẩm giao về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con như trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn ông Tống Vạn L có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông L theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về yêu cầu kháng cáo của đương sự :

- Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hiếu T làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều

273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đơn kháng cáo được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung kháng cáo:

Ông L và bà T có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 211/2010 ngày 13/12/2010 của Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông L có đơn xin ly hôn bà T do vợ chồng mâu thuẫn không giải quyết được và được tòa án cấp sơ thẩm xử cho ly hôn bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đồng ý ly hôn với ông L và chỉ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con như ông L đưa ra trên; về tài sản chung và nợ chung bà T đồng ý tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Xét thấy ông L và bà T đã thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án như trên, việc thỏa thuận này không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà T, sửa một phần bản án sơ thẩm về nuôi con, cấp dưỡng con sau khi ly hôn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.

[3] Về án phí: Do sửa một phần án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm, theo quy định pháp luật

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, Điều 296, Điều 306, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Căn cứ Điều 357 và 468 Bộ luật dân sự 2015; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội Ban hành quy định về mức thu, miễm giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

* Về hình thức: Chấp nhận đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Hiếu T về mặt hình thức.

* Về nội dung: Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Hiếu T. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Tống Vạn L. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 805/2023/HNGĐ-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Tống Vạn L được ly hôn với bà Nguyễn Thị Hiếu T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 211/2010 ngày 13/12/2010 của Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An cấp cho ông Tống Vạn L và bà Nguyễn Thị Hiếu T không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  1. Về con chung: Có 02 con chung là Tống Thế N (giới tính nam), sinh ngày 14/5/2015 và Tống Thế B (giới tính nam), sinh ngày 11/12/2018.

Công nhận sự thỏa thuận của đương sự:

Giao hai con chung là Tống Thế N (giới tính nam), sinh ngày 14/5/2015 và Tống Thế B (giới tính nam), sinh ngày 11/12/2018 cho bà Nguyễn Thị Hiếu T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Tống Vạn L cấp dưỡng cho mỗi con 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng, thực hiện cấp dưỡng từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi hai con lần lượt đủ 18 tuổi.

Ông L có quyền và nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí và thi hành án

Thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì hàng tháng người có nghĩa vụ thi hành án phải trả tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng, án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng, tổng cộng là 600.000đ (ba trăm ngàn) đồng ông Tống Vạn L phải chỉu nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng ông L đã tạm nộp áp phí theo Biên lai thu tiền số AA/2021/0029770 ngày 04/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông L còn phải nộp thêm 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Hiếu T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. H lại cho bà Nguyễn Thị Hiếu T 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số AA/2023/0022486 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TPHCM;
  • - Viện kiểm sát Cấp cao tại TPHCM,
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM
  • - TAND quận Phú Nhuận TPHCM;
  • - Chi cục THADS quận Phú Nhuận, TP.HCM;
  • - UBND thị trấn Hậu Nghĩa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An;
  • - Các đương sự (để thi hành)
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger