|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2023/HS-ST Ngày 21-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Trường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đình Hòa.
- Bà Hồ Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Quân - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Lê Nhật T, tên gọi khác: L, sinh ngày 04/02/1991 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số C T, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Ngọc Q (đã chết) và bà Trần Thị M, sinh năm 1960; chưa có vợ, con.
Tiền án: Có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 47/2018/HS-ST ngày 18/9/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù; Bản án số 223/2018/HS-ST ngày 19/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 tháng tù, tổng hợp hình phạt tại Bản án số 47/2018/HS-ST buộc chấp hành 01 năm 04 tháng tù; Bản án số 37/2021/HS-ST ngày 17/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm tù.
Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 23/5/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”; ngày 08/8/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 13/8/2017, bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 02/3/2018, bị Công an thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2023 cho đến nay; có mặt.
2. Phạm Hữu M1, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 19/8/1988 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: Số B A, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu H (đã chết) và bà Lê Thị C, sinh năm 1963; chung sống không đăng ký kết hôn với chị Tô Thị H1, sinh năm 1990; chưa có con.
Tiền án: Có 01 tiền án về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Bản án số 248/2021/HS-ST ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm cải tạo không giam giữ.
Tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 01/4/2008, bị Tòa án nhân dân thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 05/02/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 04 năm 05 tháng 21 ngày tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Bị bắt tạm giam từ ngày 09/9/2023 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Anh Võ Duy H2, sinh năm 2000; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Quang T2, sinh năm 1970; địa chỉ: Số E Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
- Chị Tô Thị H1, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 9/2023, Lê Nhật T có ý định lấy cắp chim cảnh đem bán nên nhiều lần rủ Phạm Hữu M1 tham gia.
Lần thứ 1: Ngày 06/9/2023, Lê Nhật T dùng điện thoại di động hiệu Vsmart S gọi cho Phạm Hữu M1 rủ đi lấy cắp chim cảnh. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, M1 điều khiển xe máy biển kiểm soát 75H1-224.46 từ thành phố H chở T theo đường Q rồi rẽ theo đường Tỉnh lộ 11B vừa đi vừa quan sát. Khi đến trước nhà anh Nguyễn Văn T1 tại thôn C, xã P, T phát hiện có treo 01 (một) lồng chim bằng nan tre, bên trong có chim chào mào trống đã trưởng thành treo trước nhà không có ai trông coi. Lúc này, T nói M1 điều khiển xe quay lại trước cổng nhà anh T1, M1 ngồi trên xe ở ngoài cảnh giới, T đi vào hướng cổng chính, đến lén lút chiếm đoạt lồng chim có con chim chào mào nói trên. Ngay sau đó, cả hai nhanh chóng lên xe tẩu thoát khỏi hiện trường quay lại thành phố H.
Khi đến thành phố H, T và M1 gặp ông Trần Quang T2 bán con chim chào mào cho ông T2 giá 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Cả hai chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng (Một triệu đồng). Số tiền có được, T tiêu xài hết; M1 tiêu xài hết 840.000 đồng (T3 trăm bốn mươi nghìn đồng), còn lại 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng).
Lần thứ 2: Với phương thức, thủ đoạn như trên, khoảng 10 giờ ngày 07/9/2023, sau khi nghe điện thoại của T, M1 tiếp tục sử dụng xe máy 75H1-224.46 chở T đến địa bàn huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Khi đến trước nhà anh Võ Duy H2 tại tổ dân phố T, thị trấn P, T phát hiện có một lồng chim làm bằng nan gỗ màu vàng bên trong có 01 (một) con chim chào mào trống trưởng thành treo trên cây nên nói với M1. M1 cho quay xe lại dừng bên đường, T xuống xe đến vị trí treo lồng chim trước cổng chính nhà anh H2 lén lút chiếm đoạt lồng chim và con chim chào mào. Lấy được lồng chim, M1 điều khiển xe chở T vào thành phố H nhưng chưa bán được nên M1 đưa chim và lồng chim mang về phòng trọ cất giấu.
Các anh Nguyễn Văn T1, anh Võ Duy H2 sau khi phát hiện bị mất chim đã có đơn trình báo đến cơ quan chức năng.
Qua truy xét và khám xét khẩn cấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã thu giữ được 02 (hai) con chim chào mào và lồng chim.
Các vật chứng đã thu giữ:
- 01 (một) con chim chào mào đang sống và 01 cái lồng nan bằng tre kích thước 40 x 60 cm, đã qua sử dụng do ông Trần Quang T2 nộp.
- 01 (một) con chim chào mào đang sống và 01 cái lồng nan bằng gỗ màu vàng kích thước 40 x 60 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) máy điện thoại di động, hiệu Vsmart Stars, số Imei 35887798047296 đã qua sử dụng của Lê Nhật T.
- 01 (một) máy điện thoại di động, hiệu Vivo, số Imeil 867695059746452, Imei2 867695059746445 đã qua sử dụng của Phạm Hữu M1.
- 01 (một) chiếc xe máy mang biển số 75H1-224.46, nhãn hiệu YAMAHA, số khung S9A0EY058612, số máy 189A058622, đã qua sử dụng.
- 160.000 đồng (một trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N do Phạm Hữu M1 nộp.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp huyện số: 17/KL-HĐĐGTS ngày 08/9/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện P kết luận:
- 01 (một) con chim chào mào đang sống, giá 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng) và 01 cái lồng nan bằng tre kích thước 40 x 60 cm, giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), tổng cộng 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng).
- 01 (một) con chim chào mào đang sống giá 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) và 01 cái lồng nan bằng gỗ kích thước 40 x 60 cm giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), tổng cộng 3.500.000 đồng (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã xử lý trả lại 01 (một) con chim chào mào đang sống và 01 cái lồng nan bằng tre kích thước 40 x 60 cm cho anh Nguyễn Văn T1; 01 (một) con chim chào mào đang sống và 01 cái lồng nan bằng gỗ kích thước 40 x 60 cm cho anh Võ Duy H2.
Chiếc xe máy biển kiểm soát 75H1-224.46, nhãn hiệu YAMAHA qua điều tra xác định của chị Tô Thị H1 mua lại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã quyết định xử lý trả lại cho chị H1.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T1 và anh Võ Duy H2 sau khi nhận lại tài sản, đều không có yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Anh Trần Quang T2 không yêu cầu hoàn trả lại số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) đã mua chim chào mào của T và M1 đem bán.
Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo, bị hại đều không có khiếu nại gì về kết luận định giá và các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại Bản cáo trạng số: 41 /CT-VKSPĐ ngày 13/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố Lê Nhật T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố Phạm Hữu M1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố.
- Về hình sự: Đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt Lê Nhật T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt Phạm Hữu M1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) máy điện thoại di động, hiệu Vivo thu của Phạm Hữu M1 và 01 (một) máy điện thoại di động, hiệu Vsmart Stars thu của của Lê Nhật T đã sử dụng liên lạc với nhau thực hiện hành vi phạm tội và số tiền 160.000 đồng do Phạm Hữu M1 nộp là tiền thu lợi bất chính từ bán tài sản phạm tội mà có.
- Về biện pháp tư pháp: Số tiền các bị cáo bán chim chào mào được 2.000.000 đồng đã chia cho Lê Nhật T 1.000.000 đồng tiêu xài hết và chia cho Phạm Hữu M1 1.000.000 đồng đã tiêu hết 840.000 đồng là tiền có được do bán tài sản phạm tội mà có, đề nghị buộc nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên không xét.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội; không có ý kiến bào chữa.
Trình bày ý kiến tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn T1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo T: “Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ”.
Lời nói sau cùng của bị cáo M1: “Bị cáo mong Tòa giơ cao đánh khẽ, giảm án cho bị cáo được sớm trở về chăm sóc mẹ”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Bị hại Võ Duy H2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Trần Quang T2 vắng mặt không có lý do. Xét việc vắng mặt không trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.
[2] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai bị hại, kết quả khám xét, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:
Sau khi bàn bạc với nhau, Lê Nhật T rủ Phạm Hữu M1 vào ngày 06/9/2023 đến địa bàn xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế lén lút chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn T1 01 (một) con chim chào mào đang sống trị giá 2.700.000 đồng và 01 cái lồng chim trị giá 500.000 đồng, tổng cộng 3.200.000 đồng và vào ngày 07/9/2023 đến địa bàn thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế lén lút chiếm đoạt của anh Võ Duy H2 01 (một) con chim chào mào đang sống trị giá 3.000.000 đồng và 01 cái lồng chim trị giá 500.000 đồng, tổng cộng 3.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 02 lần chiếm đoạt là 6.700.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm nghìn đồng).
Thời điểm thực hiện hành vi, các bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lê Nhật T đã nhiều lần bị kết án, trong đó Bản án số 37/2021/HS-ST ngày 17/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 03 năm tù xác định bị cáo “Tái phạm”, chấp hành xong hình phạt từ ngày 24/5/2023. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 2015, lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.
Như vậy, hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản. Bị cáo Lê Nhật T phạm vào tình tiết định khung quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Phạm Hữu M1 phạm vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò và nhân thân:
Các bị cáo T và M1 đều nhiều lần bị kết án về nhiều hành vi phạm tội khác nhau. Tuy nhiên, với thái độ coi thường pháp luật, động cơ hưởng thụ không bằng sức lao động của mình, cả hai biết người nuôi chim cảnh không thể có mặt thường xuyên theo dõi, quản lý nên lợi dụng để lén lút chiếm đoạt đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vào ban ngày; ngay sau khi chiếm đoạt được tài sản nhanh chóng tẩu thoát và tìm nơi bán tài sản, thể hiện thái độ táo bạo, liều lĩnh; phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn.
Xét tính chất đồng phạm thì các bị cáo không có sự cấu kết, bàn bạc cụ thể nên đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo T là người khởi xướng, rủ rê và thực hành tích cực; bị cáo M1 tham gia thực hành tích cực. Do đó, bị cáo T chịu trách nhiệm cao hơn bị cáo bị cáo M1.
Nhân thân các bị cáo đều đã nhiều lần bị pháp luật xử lý lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý. Cho thấy, các bị cáo không có ý thức chấp hành pháp luật, nhân thân xấu.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo 02 lần chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng nên phạm vào tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo M1 đã bị kết án tại Bản án số 248/2021/HS-ST ngày 10/11/2021, tính đến thời điểm phạm tội lần này chưa được xóa án tích nên phạm vào tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo M1 có bố đẻ là bệnh binh, mẹ mắc bệnh nặng. Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Văn T1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về hình phạt: Trên cơ sở các căn cứ quyết định hình phạt như đã phân tích, cần quyết định mức hình phạt nghiêm và áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 buộc cách ly có thời hạn để răn đe, giáo dục và góp phần phòng ngừa tội phạm.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đều đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét.
Ông Trần Quang T2 tự nguyện không yêu cầu hoàn trả lại số tiền 2.000.000 đồng đã bỏ ra để mua chim chào mào các bị cáo đem bán và đã bị thu giữ nên không xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xét thấy:
- 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Vsmart Stars của Lê Nhật T và 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Vivo của Phạm Hữu M1 sử dụng liên lạc với nhau thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) Phạm Hữu M1 nộp là tiền còn lại sau khi bán chim đã chiếm đoạt ngày 06/9/2023, đang gửi vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện P theo Ủy nhiệm chi ngày 08/12/2023 nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Chiếc xe máy biển kiểm soát 75H1-224.46, nhãn hiệu YAMAHA là của chị Tô Thị H1 mua lại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P quyết định trả lại cho chị H1 là có căn cứ.
[9] Về biện pháp tư pháp: Sau khi chiếm đoạt được chim cảnh ngày 06/9/2023, các bị cáo đem bán cho anh Trần Quang T2 lấy số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) và chia mỗi người 1.000.000 đồng. Trong đó, bị cáo T đã tiêu xài hết; bị cáo M1 đã tiêu xài 840.000 đồng. Xét thấy số tiền này là khoản thu lợi bất chính do bán tài sản phạm tội mà có. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, buộc các bị cáo nộp lại để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, thời hạn kháng cáo của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[12] Về vấn đề khác: Ông Trần Quang T2 mua chim chào mào do các bị cáo đem bán nhưng có hỏi nguồn gốc, không biết tài sản do phạm tội mà có nên không xử lý là có cơ sở.
[13] Đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Nhật T (tên gọi khác: L) và Phạm Hữu M1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lê Nhật T (Liều): 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù; thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/9/2023.
3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Phạm Hữu M1: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù; thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 09/9/2023.
4. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu.
5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Vsmart Stars thu của Lê Nhật T, 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Vivo thu của Phạm Hữu M1 (Theo Biên bản giao nhận ngày 07/12/2023 giữa đại diện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền).
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) của Phạm Hữu M1 nộp, đang gửi vào tài khoản tại Kho bạc Nhà nước huyện P theo Ủy nhiệm chi ngày 08/12/2023.
6. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
- Buộc Lê Nhật T nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- Buộc Phạm Hữu M1 nộp lại số tiền 840.000 đồng (T3 trăm bốn mươi đồng) để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Các bị cáo Lê Nhật T, Phạm Hữu M1 mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
8. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với người vắng mặt, kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Trường |
Bản án số 45/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 45/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10/5/2023, Nguyễn Tâm T cất giữ chất ma túy đã mua trước đó của một người đàn ông không quen biết nhằm sử dụng, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1-089.53 chở Nguyễn Văn H từ thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế để ra nhà ở thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị. Trên đường đi, T đưa chất ma túy cho H cất giữ. Khi đến địa phận xã P, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thì cả hai bị bắt quả tang.
