Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/KDTM-ST

Ngày 21 tháng 6 năm 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Viết Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Như T;
  2. Ông Huỳnh Công N.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt P – Thư ký Tòa án nhân dân Quận G Thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận G Thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc C - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 117/2023/KDTM-ST ngày 10 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng cho thuê tài chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2024/QĐXXST-KDTM ngày 25 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 89/2024/QĐST-KDTM ngày 24 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty C; Địa chỉ: Tầng B, Cao ốc S, số C T, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH MTV P;

Địa chỉ: Số A H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Đình T
    Địa chỉ: Số E, ấp N, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
  2. Công Ty TNHH T1
    Địa chỉ: B X, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, tại các bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn, Công ty C trình bày:

Do Công Ty TNHH MTV P có nhu cầu sử dụng phương tiện máy móc phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và đề nghị Công ty C tài trợ tài chính nên hai bên đã ký kết Hợp đồng cho thuê tài chính số B191107802 vào ngày 06/11/2019 (sau đây gọi tắt là “Hợp đồng thuê”). Theo đó, tài sản mà Công Ty TNHH MTV P có nhu cầu thuê tài chính là:

STT Tên tài sản Số lượng
01 Máy điêu khắc gỗ JUN CNC 05

(sau đây gọi tắt là “Tài sản thuê”).

Cùng ngày 06/11/2019, để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán tiền thuê của Công Ty TNHH MTV P theo Hợp đồng thuê, Công ty C chấp nhận thư bảo lãnh thanh toán của cá nhân của ông Nguyễn Đình T và Công ty TNHH T1. Theo đó, trường hợp Công Ty TNHH MTV P không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê theo các Hợp đồng thuê thì ông Nguyễn Đình T và Công Ty TNHH MTV P cam kết sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê thay cho Công Ty TNHH MTV P.

Để thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính nêu trên, Công ty C đã ký hợp đồng mua bán số B191107802-PC vào ngày 19/11/2019 để mua các tài sản nêu trên từ Công Ty TNHH X và cho Công Ty TNHH MTV P thuê lại chính các tài sản này. Đây là hình thức cho thuê tài chính theo quy định của pháp luật về cho thuê tài chính. Công Ty TNHH MTV P đã ký vào Biên bản bàn giao và nghiệm thu tài sản thuê ngày 26/11/2019 để xác nhận về việc đã nhận bàn giao tài sản.

Giá mua tài sản là 2.750.000.000 đồng, trong đó Công Ty TNHH MTV P trả trước 1.100.000.000 đồng và Công ty C tài trợ 1.650.000.000 đồng. Thời hạn thuê của Hợp đồng thuê là 42 tháng, kể từ ngày 26/11/2019 đến ngày 25/05/2023.

Ngày 27/11/2019, Hợp đồng thuê được cấp giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng.

Lãi suất thuê là lãi suất thả nổi được tính dựa trên lãi suất tiêu chuẩn VND của Công ty C cộng với biên độ là 3,72%. Theo đó, mức lãi suất thuê từ ngày bắt đầu thuê là 11,00%/năm.

Hằng tháng, Công Ty TNHH MTV P phải thanh toán cho Công ty C tiền thuê bao gồm một phần Vốn gốc và khoản tiền lãi được tính trên dư nợ giảm dần cho đến khi trả đủ số tiền Vốn gốc mà Công ty C đã tài trợ cùng các khoản lãi theo Hợp đồng thuê. Trước khi Công Ty TNHH MTV P trả hết toàn bộ Vốn gốc cùng các khoản lãi, Công ty C vẫn là chủ sở hữu của Tài sản thuê và là người đứng tên trên toàn bộ các hóa đơn, chứng từ, các giấy tờ pháp lý khác liên quan đến quyền sở hữu, v.v. đối với Tài sản thuê. Căn cứ theo các quy định pháp luật hiện hành và Điều 26 của Hợp đồng thuê, nếu Công Ty TNHH MTV P vi phạm nghĩa vụ thanh toán Tiền thuê, hay vi phạm bất cứ một điều khoản hoặc điều kiện nào của Hợp đồng thuê, hay bị mất khả năng thanh toán, Công ty C đều có quyền chấm dứt Hợp đồng thuê trước thời hạn, thu hồi Tài sản thuê và yêu cầu Công Ty TNHH MTV P bồi thường thiệt hại (nếu có).

Đến kỳ thuê thứ hai mươi mốt (phải thanh toán vào ngày 25/08/2021), Công Ty TNHH MTV P đã ngừng thanh toán cho Công ty C. Dù Công ty C đã cố gắng liên hệ nhiều lần nhưng vẫn không nhận được sự hợp tác từ phía Công Ty TNHH MTV P.

Ngày 27/12/2021, do Công Ty TNHH MTV P vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê quy định tại Điều 26 của Hợp đồng thuê, Công ty C đã phát hành Thông báo chấm dứt Hợp đồng thuê và thu hồi Tài sản thuê, theo đó yêu cầu Công Ty TNHH MTV P thanh toán tổng số tiền còn thiếu theo Hợp đồng thuê tính đến ngày 07/01/2022 (ngày chính thức chấm dứt Hợp đồng thuê) là 989.600.155 đồng (chín trăm tám mươi chín triệu sáu trăm ngàn một trăm năm mươi lăm đồng).

Sau đó, qua nhiều lần trao đổi làm việc với Công Ty TNHH MTV P thì Công Ty TNHH MTV P đã thanh toán được cho Công ty C tổng là 254.681.788 đồng, toàn bộ số tiền này đều được trừ vào nợ gốc cho Công Ty TNHH MTV P.

Ngày 31/03/2023, Công ty C đã dùng số tiền ký cược bảo đảm mà Công Ty TNHH MTV P nộp vào trước đó là 275.000.000 đồng để cấn trừ vào nợ gốc mà Công Ty TNHH MTV P còn nợ.

Tuy nhiên, khoản thanh toán và số tiền nợ cấn trừ từ tiền ký cược bảo đảm không đủ để thanh toán hết toàn bộ khoản nợ, đồng thời, Công Ty TNHH MTV P cũng không bàn giao tài sản thuê cho Công ty C (Tài sản thuê hiện tại đang do Công Ty TNHH MTV P quản lý và sử dụng theo Biên bản bàn giao ngày 26/11/2019).

Vì vậy, Công ty C khởi kiện vụ án ra Toà án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu giải quyết những nội dung sau:

Buộc Công Ty TNHH MTV P thanh toán cho Công ty C số tiền thuê còn nợ tính đến ngày 21/06/2024 là 600.139.452 đồng (Sáu trăm triệu một trăm ba mươi chín ngàn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó bao gồm:

  • Nợ gốc là: 334.603.912 đồng.
  • Nợ lãi tính đến ngày chấm dứt Hợp đồng thuê 07/01/2022 là 125.314.455 đồng.
  • Nợ lãi quá hạn từ ngày 07/01/2022 đến 21/06/2024 là 140.221.085 đồng.

Buộc Công Ty TNHH MTV P thanh toán cho Công ty C thuê tài chính Quốc tế Chailease tiền lãi chậm trả phát sinh từ ngày 21/06/2024 tính trên nợ gốc với mức lãi suất quá hạn thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.

Trường hợp Công Ty TNHH MTV P không thanh toán được số tiền thuê còn nợ, buộc Công Ty TNHH MTV P giao trả Tài sản thuê là 05 Máy điêu khắc gỗ JUN CNC để Công ty C xử lý, thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý Tài sản thuê không đủ để thanh toán số tiền còn nợ, Công Ty TNHH MTV P có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu.

Trường hợp Công Ty TNHH MTV P không thanh toán đầy đủ khoản nợ nêu trên hoặc Công Ty TNHH MTV P không giao trả Tài sản thuê để xử lý nợ, buộc các người bảo lãnh là ông Nguyễn Đình T và Công ty TNHH T1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C theo nội dung các Thư bảo lãnh đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền thuê còn nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Ông Nguyễn Đình T đề nghị nguyên đơn giãn thời gian thanh toán khoản nợ đến cuối năm 2024, hoặc đến khi tìm được khoản vay khác thay thế.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập, niêm yết hợp lệ, các văn bản tố tụng theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, gồm: Giấy triệu tập, thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án, giấy triệu tập phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng Công ty TNHH MTV P vẫn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các bước tiến hành tố tụng đầy đủ quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: về thẩm quyền thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tiến hành hòa giải, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và các đương sự. Về thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn; người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 86 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên P và Công Ty TNHH T1 và ông Nguyễn Đình T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Căn cứ các điều 471, 474 của Bộ luật Dân sự 2005; Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng.

Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí các đương sự chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[2] 1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

[3] Công ty C khởi kiện tranh chấp về hợp đồng cho thuê tài chính đối với Công ty TNHH MTV P; có địa chỉ tại Quận G Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 7 Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Công ty TNHH MTV P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[5] 2. Về các yêu cầu của đương sự, hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[6] Công ty C và Công ty TNHH MTV P đã ký Hợp đồng cho thuê tài chính số B191107802 vào ngày 06/11/2019. Theo đó, tài sản mà Công ty TNHH MTV P có nhu cầu thuê tài chính là: 05 Máy điêu khắc gỗ JUN CNC

Để thực hiện Hợp đồng thuê số B200801901, nên vào ngày 06/08/2020, Công ty C đã ký Hợp đồng mua bán số B200801901-PC với Công ty Cổ phần T2 để mua các Tài sản thuê theo Hợp đồng thuê. Sau đó, ngày 07/08/2020, Công ty TNHH MTV P đã ký vào Biên bản bàn giao và nghiệm thu Tài sản thuê để nhận bàn giao các Tài sản thuê nêu trên.

Để thực hiện Hợp đồng thuê số C201119801, nên vào ngày 17/11/2020, Công ty C đã ký Hợp đồng mua bán số C201119801-PC với chính Công ty TNHH MTV P để mua tài sản thuê theo Hợp đồng thuê và cho Công ty TNHH MTV P thuê lại các tài sản này.

Ngày 19/11/2020, Công ty TNHH MTV P đã ký vào Giấy chứng nhận nghiệm thu Tài sản thuê để chấp nhận các Tài sản thuê nêu trên.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng thuê, Ngày 27/12/2021, do Công Ty TNHH MTV P vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê quy định tại Điều 26 của Hợp đồng thuê, Công ty C đã phát hành Thông báo chấm dứt Hợp đồng thuê và thu hồi Tài sản thuê, theo đó yêu cầu Công Ty TNHH MTV P thanh toán tổng số tiền còn thiếu theo Hợp đồng thuê tính đến ngày 07/01/2022 (ngày chính thức chấm dứt Hợp đồng thuê) là 989.600.155 đồng (chín trăm tám mươi chín triệu sáu trăm ngàn một trăm năm mươi lăm đồng).

Sau đó, qua nhiều lần trao đổi làm việc với Công Ty TNHH MTV P thì Công Ty TNHH MTV P đã thanh toán được cho Công ty C tổng là 254.681.788 đồng, toàn bộ số tiền này đều được trừ vào nợ gốc cho Công Ty TNHH MTV P.

Ngày 31/03/2023, Công ty C đã dùng số tiền ký cược bảo đảm mà Công Ty TNHH MTV P nộp vào trước đó là 275.000.000 đồng để cấn trừ vào nợ gốc mà Công Ty TNHH MTV P còn nợ.

Tuy nhiên, khoản thanh toán và số tiền nợ cấn trừ từ tiền ký cược bảo đảm không đủ để thanh toán hết toàn bộ khoản nợ, đồng thời, Công Ty TNHH MTV P cũng không bàn giao tài sản thuê cho Công ty C (Tài sản thuê hiện tại đang do Công Ty TNHH MTV P quản lý và sử dụng theo Biên bản bàn giao ngày 26/11/2019).

[7] Như vậy Công ty TNHH MTV P còn nợ Công ty C số tiền tính đến ngày 21/6/2024 là 600.139.452 đồng (Sáu trăm triệu một trăm ba mươi chín ngàn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 334.603.912 đồng.Nợ lãi tính đến ngày chấm dứt Hợp đồng thuê 07/01/2022 là 125.314.455 đồng. Nợ lãi quá hạn từ ngày 07/01/2022 đến 21/06/2024 là 140.221.085 đồng..

[8] Căn cứ Khoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005 “Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng N công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

[9] Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.

[10] Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả làm một lần số tiền nợ gốc và tiền lãi đến ngày 21/6/2024 là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[11] Về khoản tiền lãi kể từ sau ngày tòa xét xử sơ thẩm: Kể từ 22/6/2024 Công ty TNHH MTV P còn phải chịu tiền lãi trên số tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

[12] Xét yêu cầu trong Trường hợp Công Ty TNHH MTV P không thanh toán được số tiền thuê còn nợ, buộc Công Ty TNHH MTV P giao trả Tài sản thuê là 05 Máy điêu khắc gỗ JUN CNC để Công ty C xử lý, thu hồi nợ. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý Tài sản thuê không đủ để thanh toán số tiền còn nợ, Công Ty TNHH MTV P có nghĩa vụ thanh toán tiếp số tiền còn thiếu. để Công ty C xử lý, thu hồi nợ.

Căn cứ nội dung các chứng thư bảo lãnh lập ngày 6/11/2019 có ghi nhận: Bên nhận bảo lãnh đồng ý trong trường hợp Bên thuê không thực hiện được bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào theo hợp đồng thuê vì bất kì lý do gì, Bên nhận bảo lãnh phải thực hiện các nghĩa vụ theo yêu cầu lần đầu bằng văn bản của B cho thuê mà Bên cho thuê không phải thu hồi và xử lý tài sản. Do đó, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Nguyên đơn buộc Bị đơn giao trả lại tài sản thuê Tài sản thuê là 05 Máy điêu khắc gỗ JUN CNC để Công ty C xử lý thu hồi nợ.

[13] Xét, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: Do Công Ty TNHH T1 và ông Nguyễn Đình T có Thư bảo lãnh cá nhân của được lập vào các ngày 06/11/2019 và ngày 17/11/2020 về việc bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền thuê theo Hợp đồng thuê có nội dung “... Bên nhận bảo lãnh đồng ý trong trường hợp bên thuê không thể thực hiện được bất kỳ nghĩa vụ thanh toán nào theo hợp đồng thuê vì bất cứ lý do gì, Bên bảo lãnh phải thực hiện các nghĩa vụ theo yêu cầu lần đầu bằng văn bản của bên cho thuê mà bên cho thuê không phải thu hồi và xử lý tài sản thuê theo hợp đồng thuê......” Nên trong trường hợp Công ty TNHH MTV P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Công Ty TNHH T1 và ông Nguyễn Đình T thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C theo nội dung các Thư bảo lãnh cá nhân đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền thuê Công ty TNHH MTV P còn nợ.

[14] Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Công ty TNHH MTV P chịu, Công ty TNHH MTV P hoàn lại cho Công ty C số tiền 10.000.000 đồng.

[15] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu một phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải có nghĩa vụ nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo quy định. Nguyên đơn chịu án phí đối phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Căn cứ Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các điều 335, 336, 339, 463, 464, 465, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng ;

Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Áp dụng Luật thi hành án dân sự;

  1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty C về việc:
    1. Buộc Công ty TNHH MTV P thanh toán cho Công ty C số tiền 600.139.452 đồng (Sáu trăm triệu một trăm ba mươi chín ngàn bốn trăm năm mươi hai đồng), trong đó bao gồm: Nợ gốc là: 334.603.912 đồng.Nợ lãi tính đến ngày chấm dứt Hợp đồng thuê 07/01/2022 là 125.314.455 đồng. Nợ lãi quá hạn từ ngày 07/01/2022 đến 21/06/2024 là 140.221.085 đồng.
    2. Kể từ ngày 22/6/2024 Công ty TNHH MTV P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
    3. Không chấp nhận yêu cầu Công ty TNHH MTV P giao trả Tài sản thuê còn lại là 05 Máy điêu khắc gỗ JUN CNC để Công ty C xử lý, thu hồi nợ để Công ty C xử lý, thu hồi nợ
    4. Trong trường hợp Công ty TNHH MTV P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ thì Công Ty TNHH T1 và ông Nguyễn Đình T thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty C theo nội dung các Thư bảo lãnh cá nhân đã ký cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số tiền thuê Công ty TNHH MTV P còn nợ.
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chổ: Công ty TNHH MTV P chịu, Công ty TNHH MTV P hoàn lại cho Công ty C số tiền 10.000.000 đồng
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH MTV P chịu 28.005.578 đồng án phí. Công ty C phải chịu 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 13.147.408 đồng và được hoàn lại 10.147.408 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0037303 ngày 10 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  5. Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpH;
  • - Viện kiểm sát nhân dân QG;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự QG;
  • - Mỗi đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ (Thư ký Việt P).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Viết Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/KDTM-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 45/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty cho thuê tài chính C tranh chấp hợp đồng tín dụng với công ty P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger