Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST

Ngày 12/12/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Dũng và bà Nguyễn Thanh Thủy.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.

Thư ký Toà án tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Nam T, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vân và ông Đặng Văn H, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh T, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 14/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-HS ngày 27/11/2025, đối với bị cáo:

Hoàng Văn T1, tên gọi khác: không; sinh ngày 22/6/1992, tại Thái Nguyên; nơi cư trú: xóm B, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Nùng; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T2 và bà Đặng Thị X; có vợ là Đỗ Thị P, có 02 con. Tiền án: Không;

Tiền sự: 01, Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 155/QĐ-XPHC ngày 22/4/2025, Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (nay là Công an xã Đ, tỉnh Thái Nguyên) xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa thi hành.

Nhân thân: 01, Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 3844/QĐ-XPKLBB ngày 01/9/2015, Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/8/2025 đến nay, có mặt.

- Người chứng kiến: Anh Hoàng Diệp S, sinh năm 2006, nơi cư trú: xóm B, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h30' ngày 14/8/2025 Hoàng Văn T1 đi bộ một mình từ nhà đến khu vực xóm T, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi đến nơi, T1 gặp và mua của một người đàn ông không quen biết số tiền 200.000 đồng được 01 gói ma túy loại Heroine được bọc bằng lớp giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh. Trường C vào túi áo phía trước bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Hồi 00 giờ 10 phút ngày 15/8/2025, khi T1 đi bộ đến khu vực xóm T, xã Đ thì bị tổ công tác Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng là gói giấy màu trắng có dòng kẻ màu xanh bên trong có chứa chất bột màu trắng và niêm phong theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất bột màu trắng thu giữ của T1 có khối lượng 0,662 gam, lấy toàn bộ số chất màu trắng trên đưa vào bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định.

Tại Bản kết luận giám định số 166/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,662 gam.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu H1 bên trong có 0,643 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 phong bì ký hiệu H2 bên trong có vỏ phong bì niêm phong ký hiệu H và vỏ gói giấy cũ. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thái Nguyên chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 14/CT-VKSKV5 ngày 14/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên truy tố bị cáo Hoàng Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu H1, H2.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2]. Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

    Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 15/8/2025, tại khu vực xóm T, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Văn T1 có hành vi tàng trữ 0,662 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

  3. [3]. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, điều luật có nội dung:

    1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm;

    c) Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

  4. [4]. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
  5. [5]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính cùng về hành vi liên quan đến ma túy nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  6. [6]. Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.
  7. [7]. Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời; xác minh tại nơi cư trú của bị cáo xác định bị cáo hiện đang sống cùng gia đình, không có tài sản gì riêng có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  8. [8]. Về vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu H1, H2; là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
  9. [9]. Về các vấn đề khác:

    Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực xóm T, xã Đ, tỉnh Thái Nguyên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp quy định pháp luật.

  10. [10]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước; bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
  11. [11]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Thái Nguyên về áp dụng pháp luật, hình phạt áp dụng đối với bị cáo và các vấn đề cần giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T1 48 (bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/8/2025.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 02 bì niêm phong kí hiệu H1, H2.
    • Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 12 ngày 11/11/2025 giữa Công an tỉnh T và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Thái Nguyên.
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND khu vực 5 -TN;
  • - Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - THADS tỉnh TN;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THÁI NGUYÊN về hình sự về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger