TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2025/DS-ST Ngày: 27/3/2025 “V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trương Phước Công;
- Bà Đào Thị Thu Vân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1260/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 10 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự về hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 99/2025/QĐHPT ngày 07 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
- Bị đơn: Bà Lê Thị Thanh T, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày: Do chỗ quen biết với vợ chồng bà T (N), ông H1 bà có tham gia hụi do bà N làm chủ, số tiền bà T (N) hưởng hoa hồng từ các hụi viên khác hốt. Đến kỳ mở hụi, hụi viên nào mở giá hụi cao nhất thì được hốt hụi. Chủ hụi có trách nhiệm thu tiền các hụi viên khác giao cho người hốt được và hưởng hoa hồng. Bà tham gia 09 dây hụi do bà T (N) làm chủ như sau:
Dây hụi thứ nhất: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 04/10/2022 (al) hụi có 23 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 23). Hụi khui đến lần thứ 15 thì bà T (N) tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 14 lần, số tiền bà được hưởng là 14 x 5 = 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 08/12/2022 (al) hụi có 22 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 18) hụi khui đến lần thứ 13 thì bà T (N) tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 12 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 12 x 5 = 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng). Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ ba: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 15/4/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 22) hụi khui đến lần thứ 8 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 07 lần, số tiền chầu hụi bà được hưởng là 07 x 5 = 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng) Hụi hiện nay chưa mãn.
Dây hụi thứ tư: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 20/4/2022 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này hủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 21) hụi khui đến lần thứ 21 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 20 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 20 x 3 = 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng) Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ năm: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 04/5/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số A, 11) hụi khui đến lần thứ 7 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 06 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 12 x 3 = 36.000.000 đồng (ba mươi sáu triệu đồng) Hụi hiện nay chưa mãn.
Dây hụi thứ sáu: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 18 /7/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 11) hụi khui đến lần thứ 5 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 04 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 4 x 3 = 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) Hụi hiện nay chưa mãn.
Dây hụi thứ bảy: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 18/02/2023 (al) hụi có 25 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 22) hụi khui đến lần thứ 10 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 09 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 09 x 2 = 18.000.000 đồng (mười tám triệu đồng) Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ tám: Hụi 1.000.000đ/ ½ tháng khui một lần ngày 10/8/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 11) hụi khui đến lần thứ 07 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 06 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 6 x 1 = 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng) Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ chín: Hụi 500.000đ/ ½ tháng khui một lần ngày 30/5/2023 (al) hụi có 32 hụi viên, dây hụi này bà tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 12,13) hụi khui đến lần thứ 14 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà chầu được 13 lần, số tiền hụi bà được hưởng là 26 x 500.000 đồng = 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng) Hụi hiện nay đã mãn.
Trong 09 dây hụi bà chầu tổng cộng số tiền hụi là 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng). Việc bà tham gia chơi hụi thì ông H1 chồng bà T vẫn biết, ông H1 cũng có đến nhà bà để góp tiền hụi.
Nay bà yêu cầu bà Lê Thị Thanh T (N), ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi trong 09 dây hụi là 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng) không yêu cầu tính lãi.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07.3.2025 bị đơn ông Nguyễn Văn H1 trình bày: Ông và bà T hiện nay vẫn còn là vợ chồng, việc bà T là vợ ông làm chủ hụi do bà L tham gia thì ông cũng biết, có những lần bà L đến nhà ông khui hụi thì đôi khi ông có ở nhà và cũng có khi ông đi làm. Đối với khoản tiền hụi mà bà L kiện vợ chồng ông thì ông cũng biết nhưng do vợ ông là bà T (N) đang bị các hụi viên khác hốt hụi không chầu hụi chết nên không có khả năng trả tiền lại cho các hụi viên đang còn tham gia, khi nào các hụi viên đã hốt xong trả tiền hụi chết lại cho vợ chồng ông thì vợ chồng ông đồng ý trả lại số tiền hụi cho bà L, hiện tại thì vợ chồng ông không có khả năng trả.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là: Giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu gia đình (bản sao); danh sách hụi viên (bản photo).
- Bà Lê Thị Thanh T, ông Nguyễn Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn bà Trần Thị L đã cung cấp các tài liệu chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; không còn tài liệu, chứng cứ nào khác.
- Bị đơn bà Lê Thị Thanh T (N), ông Nguyễn Văn H1 vắng mặt không có ý kiến.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Ý kiến giải quyết vụ án:
Bà Trần Thị L là hụi viên do quen biết nên có tham chơi hụi do bà Lê Thị Thanh T (Kim N) và ông Nguyễn Văn H1 làm chủ hụi, bà L tham gia 09 dây hụi, gồm:
Dây hụi thứ nhất: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 04/10/2022 (âl) hụi có 23 hụi viên, dây hụi này bà L tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 23). Hụi khui đến lần thứ 15 thì bà T tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 14 lần x 5 = 70.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ hai: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 08/12/2022 (âl) hụi có 22 hụi viên, dây hụi này bà L tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 18) hụi khui đến lần thứ 13 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 12 lần, số tiền chầu hụi sống là 12 x 5 = 60.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ ba: Hụi 5.000.000đ/tháng khui ngày 15/4/2023 (âl) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà L tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 22) hụi khui đến lần thứ 8 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 07 lần, số tiền chầu hụi sống là 07 x 5 = 35.000.000 đồng. Hụi hiện nay chưa mãn.
Dây hụi thứ tư: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 20/4/2022 (âl) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà L tham gia 01 phần (trong dây hụi này hủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 21) hụi khui đến lần thứ 21 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 20 lần, số tiền chầu hụi sống là 20 x 3 = 60.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ năm: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 04/5/2023 (âl) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này tôi tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số A, 11) hụi khui đến lần thứ 7 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 06 lần, số tiền chầu hụi sống là 12 x 3 = 36.000.000 đồng. Hụi hiện nay chưa mãn.
Dây hụi thứ sáu: Hụi 3.000.000đ/tháng khui ngày 18/7/2023 (âl) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà L tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 11) hụi khui đến lần thứ 5 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 04 lần, số tiền chầu hụi sống là 4 x 3 = 12.000.000 đồng. Hụi hiện nay chưa mãn.
Dây hụi thứ bảy: Hụi 2.000.000đ/tháng khui ngày 18/02/2023 (âl) hụi có 25 hụi viên, dây hụi này bà L tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 22) hụi khui đến lần thứ 10 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 09 lần, số tiền chầu hụi sống là 09 x 2 = 18.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ tám: Hụi 1.000.000đ/ ½ tháng khui một lần ngày 10/8/2023 (al) hụi có 24 hụi viên, dây hụi này bà L tham gia 01 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 11) hụi khui đến lần thứ 07 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 06 lần, số tiền chầu hụi sống là 6 x 1 = 6.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.
Dây hụi thứ chín: Hụi 500.000đ/ ½ tháng khui một lần ngày 30/5/2023 (âl) hụi có 32 hụi viên, dây hụi này bà L tham gia 02 phần (trong dây hụi này chủ hụi ghi tên Cô 5 Lệ nằm số thứ tự số 12,13) hụi khui đến lần thứ 14 thì bà T tự ý ngưng không khui tiếp tục. Do đó dây hụi này bà L chầu được 13 lần, số tiền chầu hụi sống là 26 x 500.000 đồng = 13.000.000 đồng. Hụi hiện nay đã mãn.
Việc bà L tham gia chơi hụi thì ông H1 vẫn biết, ông H1 cũng có đến nhà bà để góp tiền hụi.
Nay bà L yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị Thanh T, ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi trong 09 dây hụi là 310.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Phía bà T nhận được Thông báo thụ lý của Tòa án biết được yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện này. Riêng ông H1 cho biết do vợ là bà T (N) đang bị các hụi viên khác hốt hụi không chầu hụi chết nên không có khả năng trả tiền lại cho các hụi viên đang còn tham gia, khi nào các hụi viên đã hốt xong trả tiền hụi chết lại cho vợ chồng ông H1, thì vợ chồng ông H1 đồng ý trả lại số tiền hụi cho bà L, hiện tại thì vợ chồng ông H1 không có khả năng trả.
Xét thấy, căn cứ bà L khởi kiện là các sổ hụi và biên bản xác minh ngày 05/12/2024 đối với bà Lê Thị Cẩm C, Trần Thị T1, Nguyễn Thị L1, Lê Thị Kim C1 và Trần Thị Thúy N1 xác định bà Trần Thị L có tham gia các dây hụi trên do bà T (Kim N) và ông H1 làm chủ hụi nên có cơ sở xác định việc giao dịch hụi giữa bà L và bà T (Kim N) và ông H1 được xác lập trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận do bà T (Kim N) và ông H1 không giao tiền hụi cho bà L, là vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi nên bà L khởi kiện yêu cầu bà T (Kim N) và ông H1 trả nợ 310.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp Điều 471 Bộ luật Dân sự.
Về lãi suất, do bà L không yêu cầu giải quyết nên không đề cập đến.
Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự:
- Công nhận hợp đồng hụi giữa bà Trần Thị L và bà Lê Thị Thanh T (Kim N) và ông Nguyễn Văn H1.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lệ .
- Buộc bà Lê Thị Thanh T (K) và ông Nguyễn Văn H1 trả bà Trần Thị Lệ N2 hụi là 310.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Lệ H kiện yêu cầu bà Lê Thị Thanh T, ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi 310.000.000 đồng. Bà T, ông H1 có nơi cư trú tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trước khi phiên tòa bị đơn bà Lê Thị Thanh T (N), ông Nguyễn Văn H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt bà T (N), ông H1. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà T (N), ông H1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
[3] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Qua lời khai và lời trình bày của bà Trần Thị L tại các biên bản hòa giải, các tài liệu chứng cứ cung cấp và qua quá trình bà giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xác định giữa bà L với bà T có ký kết hợp đồng góp hụi giữa hai bên phù hợp với quy định của pháp luật. Nên được pháp luật công nhận và bảo vệ, không trái đạo đức xã hội, do bà T tự ý ngưng không khui hụi tiếp tục nhưng bà T không trả số tiền hụi khi bà L có yêu cầu là vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015 để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trong số các tài liệu, chứng cứ do bà L cung cấp có các danh sách hụi thể hiện tên bà trong từng dây hụi được bà T ghi nằm các số thứ tự theo từng dây hụi.
Lời khai của những người làm chứng tham gia chung với bà L thì cũng xác định bà L có tham gia chơi hụi trong các dây hụi mà bà T làm chủ và hiện nay bà T còn thiếu lại bà L số tiền hụi là 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng).
Như vậy, lời khai của bà L phù hợp với danh sách hụi và lời khai của những người tham gia chơi hụi cùng bà L. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L.
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nghĩa vụ trả nợ của bị đơn:
Bà L yêu cầu bà T, ông H1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng).
Xem xét yêu cầu nghĩa vụ trả nợ của bà T, ông H1 nhận thấy, giữa bà L với bà T cùng xác lập hợp đồng góp hụi với nhau, nhưng bà T tự ý không hụi tiếp tục và cũng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà L khi bà L có yêu cầu.
Xem xét yêu cầu liên đới thấy rằng, mặc dù, bà T là người trực tiếp giao dịch với các hụi viên, tuy ông H1 không trực tiếp giao dịch hụi nhưng trong quá trình làm việc thì ông H1 vẫn thừa nhận có thiếu tiền hụi của bà L, tuy nhiên hiện nay các hụi viên trong các dây hụi khác đã hốt nhưng không chầu lại cho vợ chồng ông nên vợ chồng ông không có khả năng trả lại tiền cho các hụi viên còn sống, hiện nay ông H1 và bà T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, nên hôn nhân ông bà hợp pháp, vì vậy bà L yêu cầu bà T, ông H1 cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền hụi 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng) là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của bà L tại phiên Tòa vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của L là phù hợp với quy định pháp luật tại các Điều 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án bà L không yêu cầu tính lãi suất. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Thị Thanh T, ông Nguyễn Văn Hăn H1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bà Trần Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều:
Điều 282, 466, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 26, 35, 39, 144, 146, 147, 227, 228, 235, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Lệ .
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Buộc bà Lê Thị Thanh T (K), ông Nguyễn Văn H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị L số tiền hụi 310.000.000 đồng (ba trăm mười triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà Lê Thị Thanh T (K), ông Nguyễn Văn H1 phải chịu 15.500.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trần Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do bà Trần Thị L có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí do bà là người cao tuổi nên bà được miễn nộp tạm ứng án phí. Do đó bà Trần Thị L không được nhận lại tiền tạm ứng án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |
Bản án số 45/2025/DS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 45/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
