Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/DS-ST
Ngày: 19-3-2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phước .
  2. Bà Trần Thanh Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm Sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 573/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Địa chỉ: Số B đường N, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Sĩ K- chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ - Ngân hàng TMCP S Chi nhánh S1; địa chỉ: số C đường T, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 19/3/2025. (Có mặt)

- Bị đơn: Bà Dương Thị Đ, sinh năm 1986. (Vắng mặt)

Địa chỉ: số A, Đường C, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 09 tháng 10 năm 2024 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S và tại bản tự khai ngày 18/3/2025, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Lê Hoàng P trình bày:

Ngày 18/01/2023, bà Dương Thị Đ có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S - Chi nhánh S1, Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) hạn mức tín dụng là 35.000.000 đồng, loại thẻ Visa, số thẻ 472074-5644, lãi suất cho vay (33,2%/năm, tương đương 2,77%/tháng); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 40.009.258 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 8.000.000 đồng. Từ ngày 11/8/2023 bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận. Căn cứ Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên vào ngày 11/10/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bà Đ tại thời điểm này là 42.626.685 đồng sang làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là 2,77%/tháng). Tính đến ngày 03/6/2024, bà Đ còn nợ ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi là 56.598.546 đồng (trong đó: vốn gốc: 42.626.685 đồng, lãi quá hạn 13.971.861 đồng).

Sau khi ngân hàng khởi kiện thì vào ngày 10/9/2024, 10/10/2024 và 10/11/2024 bà Đ trả cho Ngân hàng được tổng số tiền gốc là 1.500.000 đồng.

Nay Ngân hàng TMCP S yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc bà Đ phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tính đến ngày 19/3/2025 là 71.797.046 đồng (Trong đó, nợ gốc là 41.126.685 đồng, lãi quá hạn là 30.670.361 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/3/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Đối với bị đơn bà Dương Thị Đ: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bà Đ không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bị đơn bà Đ không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Dương Thị Đ, cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền gốc và lãi vay còn nợ là 71.797.046 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2023. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Lê Hoàng P vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông K1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc yêu cầu bà Đ trả số tiền gốc và lãi là 71.797.046 đồng, thấy rằng:

Theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2023, Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng) do nguyên đơn cung cấp có chữ ký và chữ viết tên của bà Đ. Tòa án đã thông báo cho bà Đ biết các tài liệu chứng cứ trên nhưng bà Đ không có ý kiến phản đối. Đồng thời, sau nhận thẻ tín dụng, bà Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 29.190.000 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 9.500.000 đồng. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Như vậy, có cơ sở xác định bà Đ đã vay tiền của Ngân hàng theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 18/01/2023 với hạn mức sử dụng là 35.000.000 đồng, loại thẻ Visa, số thẻ 472074-5644, lãi suất cho vay (33,2%/năm, tương đương 2,77%/tháng); Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân.

[4]. Về tính hợp pháp của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2023, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Phiếu yêu cầu lập ngày 18/01/2023. Các bên đều có đủ tư cách chủ thể, có đủ năng lực hành vi dân sự nên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là hợp pháp. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, không bị lừa dối ép buộc và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo hợp đồng.

[5]. Ngân hàng đã kích hoạt thẻ (Giao thẻ và P1) với hạn mức sử dụng là 35.000.000 đồng cho bà Đ. Sau khi nhận thẻ, bà Đ đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 29.190.000 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 8.000.000 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 11/8/2023 bà Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng căn cứ Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà Đ từ ngày 11/10/2023 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của bà Đ tại thời điểm này là 42.626.685 đồng sang làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn và yêu cầu bà Đ thanh toán toàn bộ số tiền gốc và lãi quá hạn. Đến ngày 10/9/2024, 10/10/2024 và 10/11/2024, bà Đ thanh toán nợ gốc tổng số tiền là 1.500.000 đồng; Tính đến hết ngày 19/3/2025, bà Đ còn nợ số tiền gốc và lãi quá hạn là 71.797.046 đồng (trong đó, nợ gốc là 41.126.685 đồng, lãi quá hạn là 30.670.361đồng) là phù hợp với thỏa thuận tại các Điều 18, 19, 20, 22, 23, 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết, phù hợp với Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, cũng như phù hợp với với quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Đồng thời, số tiền gốc và lãi nêu trên Ngân hàng đã tính đúng nên được chấp nhận.

[6] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 20/3/2025 cho đến khi bà Đ trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao nên được chấp nhận.

[7] Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S được chấp nhận nên không phải chịu án phí.

Bị đơn bà Dương Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.589.852 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án;

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
  • Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S:

  • Buộc bà Dương Thị Đ có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 19/3/2025 là 71.797.046 đồng (trong đó, nợ gốc là 41.126.685 đồng, lãi quá hạn là 30.670.361đồng)
  • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Dương Thị Đ còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/01/2023, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Dương Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 3.589.852 đồng.

Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.414.964 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008591 ngày 22 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

3. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Sóc Trăng;

- VKSND TP Sóc Trăng;

- Các đương sự;

- Chi cục THADS TP Sóc Trăng;

- Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/DS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 45/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger