Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST

Ngày 19 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng

Ông Hà Anh Đức

Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thu Hiền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/HSST - QĐ ngày 06/3/2025; Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 20/2025/QĐ-TA ngày 14/3/2025 với các bị cáo:

  1. LÝ THỊ N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 21 tháng 9 năm 2002 tại huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Đăng ký thường trú: Thôn C, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; Chỗ ở trước khi bị bắt: Số nhà B, đường T, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lý Văn H và bà Lý Thị N. Bị cáo chưa có chồng, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/10/2024, tạm giam ngày 24/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.

  2. TRẦN TRỌNG H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03 tháng 01 năm 1991 tại huyện M, tỉnh Lào Cai; Đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ C, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Thanh X và bà Nguyễn Thị H1. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị D và có 03 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

    Về nhân thân: 01 tiền sự về hành vi trộm cắp, ngày 03/5/2005 Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo. Tiền sự này đã được xoá.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/10/2024, tạm giam ngày 24/10/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.

  3. HOÀNG THỊ H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 15 tháng 01 năm 2000 tại huyện T, tỉnh Lai Châu; Đăng ký thường trú: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Khơ Mú; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn B và bà Hoàng Thị L. Bị cáo có chồng là Phạm Ngọc Đ, bị cáo chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 15/10/2024, tạm giam ngày 24/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý Thị N1: Bà La Thị Huyền T – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ ngày 15/10/2024, Trần Trọng H2 nhắn tin và gọi điện thoại qua ứng dụng mạng xã hội Z cùng Lý Thị N1 thì Lý Thị N1 đã rủ Trần Trọng H2 đi sử dụng bóng cười, Trần Trọng H2 đồng ý rồi một mình đi xe taxi từ nhà ra khách sạn Michi's trên đường A thuộc tổ B, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai để thuê phòng. Sau khi thuê được phòng, Trần Trọng H2 vào ứng dụng mạng xã hội T1 rồi tìm tên tài khoản “Hai N2” đặt mua 05 (năm) bình khí cười với giá tiền là 5.000.000 đồng. Khoảng 10 phút sau thì người này gọi điện thoại qua ứng dụng T1 bảo Trần Trọng H2 xuống sảnh khách sạn để lấy 05 (năm) bình kim loại hình trụ tròn và 02 (hai) túi nilon bên trong có chứa các vỏ bóng bay. Sau khi mua được khí cười xong thì Trần Trọng H2 mang toàn bộ bình khí này lên trên phòng nghỉ 602.

Sau khi nói chuyện với Trần Trọng H2 xong, Lý Thị N1 đã rủ Hoàng Thị H3 đi chơi cùng. Khi đến nơi thì Lý Thị N1 cùng Hoàng Thị H3 đi lên phòng 602 thì thấy Trần Trọng H2 đang một mình ở trong phòng. Tại đây, Trần Trọng H2 cùng Lý Thị N1 và Hoàng Thị H3 đã sử dụng bóng cười. Đến khoảng 04 giờ sáng cùng ngày thì Trần Trọng H2 đi về trước, còn Lý Thị N1 và Hoàng Thị H3 tiếp tục nằm nghỉ tại phòng.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Lý Thị N1 nảy sinh ý định sử dụng ma túy Ketamine nên đã gọi điện thoại cho Kim Văn P qua ứng dụng mạng xã hội Facebook Messenger nhờ P mua hộ 01 (một) chỉ ma túy Ketamine, P đồng ý mua hộ và báo giá tiền là 2.100.000 đồng. Do không có tiền nên Lý Thị N1 nhắn tin nhờ Trần Trọng H2 cho vay số tiền 3.000.000 đồng nhưng không nói vay tiền để làm gì, Trần Trọng H2 đồng ý chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng V đến tài khoản ngân hàng V của Lý Thị N1 có số tài khoản 2965617210 số tiền 3.000.000 đồng.

Sau khi vay được tiền thì Lý Thị N1 chuyển khoản đến tài khoản số 9859193333 ngân hàng V của Kim Văn P số tiền 2.100.000 đồng. Sau đó, Lý N1 cùng Hoàng Thị H3 đi xuống lễ tân gửi chìa khóa phòng nghỉ và nhắn tin cho Trần Trọng H2 với nội dung là phòng vẫn chưa trả, nếu Trần Trọng H2 ra thì sẽ chơi bóng tiếp rồi Lý Thị N1 và Hoàng Thị H3 cùng nhau đi ăn sáng. Sau khi ăn sáng xong thì Lý Thị N1 tiếp tục rủ Hoàng Thị H3 cùng đi xe taxi đi đến số nhà E, đường T, phường D, thành phố L là nhà của Kim Văn P để lấy ma túy, khi đến nơi thì Lý Thị N1 xuống xe một mình đi đến trước cửa nhà P nhận 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa các hạt tinh thể rắn, màu trắng, Lý Thị N1 biết đây là túi ma túy Ketamine mà P mua hộ cho mình nên đã cất giấu vào trong túi xách rồi nhắn tin qua ứng dụng mạng xã hội Zalo rủ Trần Trọng H2 đi ra khách sạn M chơi. Trần Trọng H2 đồng ý rồi đi xe taxi đi ra khách sạn Michi's. Khi Lý Thị N1, Hoàng Thị H3 quay lại phòng 602 thì thấy Trần Trọng H2 đang ở trong phòng nghe nhạc và sử dụng bóng cười. Lý Thị N1 lấy từ trong túi xách ra 01 (một) túi ma túy Ketamine vừa mua được đưa cho Hoàng Thị H3 và nói: “chị ở lại chơi với em”, do không có bật lửa nên Lý Thị N1 bảo Trần Trọng H2 gọi lễ tân khách sạn mang cho mượn bật lửa. Lý Thị N1 đi ra lấy bật lửa rồi đưa cho Hoàng Thị H3 và lấy tờ tiền 2000 đồng, 10.000 đồng đưa cho Hoàng Thị H3 và bảo “đang phê bóng không xào ke được”, Hoàng Thị H3 hiểu ý Lý Thị N1 đưa tiền và ma túy cho là để xào ma tuý Ketamine trên tờ tiền giấy 2000 đồng và cuốn tẩu hít ma tuý bằng tờ tiền 10.000 đồng. Hoàng Thị H3 đổ một phần các cục ma tuý Ketamine trong túi nilon lên một mặt của tờ tiền 2000 đồng, phần ma tuý còn lại trong túi nilon Hoàng Thị H3 cất vào trong chiếc hộp giấy đang để ở trên kệ gỗ, Hoàng Thị H3 dùng bật lửa hơ nóng mặt còn lại của tờ tiền rồi gập tờ tiền lại và dùng bật lửa đè lên mặt tờ tiền cho cục M1 nát ra thành chất bột. Sau khi xào ma tuý xong, Lý Thị N1 bảo Hoàng Thị H3 mời Trần Trọng H2 sử dụng ma tuý. Thấy được Hoàng Thị H3 mời sử dụng ma túy nên Trần Trọng H2 cầm tờ tiền cuốn tròn hít ma tuý Ketamine, khi sử dụng xong thì Trần Trọng H2 đặt tờ tiền chứa ma tuý và tờ tiền dùng để hít ma tuý lên kệ gỗ cạnh hộp giấy.

Khoảng 11 giờ 20 ngày 15/10/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và ma túy Công an thành phố L phối hợp với Công an phường K tiến hành kiểm tra phòng 602, khách sạn Michi's. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại mặt bàn gỗ có 01 (một) hộp giấy ăn, kiểm tra bên trong hộp giấy ăn có một tờ tiền, trên tờ tiền có các chất khô màu trắng nghi là ma tuý; 01 (một) túi nilon có mép miết, bên trong có các chất màu trắng nghi là ma tuý, trên nền nhà tại chân giường có 05 (năm) bình kim loại, kiểm tra bên trong không có chất gì, Trần Trọng H2 khai nhận bình kim loại này là bình khí cười do Trần Trọng H2 mang đến để sử dụng, đối với các chất khô màu trắng, Lý Thị N1 khai nhận đây là ma tuý Ketamine của Lý Thị N1 mua được để cho mọi người cùng sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lý Thị N1, Trần Trọng H2, Hoàng Thị H3 và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L khám xét khẩn cấp địa điểm tại phòng 602, khách sạn M, số nhà C, đường A thuộc tổ B, phường

K, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Quá trình khám xét thu giữ 01 (một) chiếc bật lửa và 01 (một) tờ tiền ngân hàng N3 mệnh giá 10.000 đồng.

Kết luận giám định số 457/KL-GĐMT ngày 17/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 (một) tờ tiền ngân hàng N3 mệnh giá 2000 đồng, bên trong có chứa chất bột khô, màu trắng, khối lượng chất bột khô, màu trắng này là 0,070 gam (không phẩy không trăm bảy mươi) là chất ma túy, loại Ketamine; 01 (một) túi nilon có mép miết, bên trong túi nilon có chứa chất bột khô, màu trắng, khối lượng chất bột khô, màu trắng này là 0,511 gam (không phẩy năm trăm mười một) là chất ma túy, loại Ketamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Lý Thị N1, Trần Trọng H2, Hoàng Thị H3 khai nhận số ma túy thu giữ là của các bị cáo do Lý Thị N1 mua với mục đích để các bị cáo cùng tổ chức cho nhau sử dụng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định.

Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Lý Thị N1, Trần Trọng H2, Hoàng Thị H3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Thị N1, Trần Trọng H2, Hoàng Thị H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lý Thị N1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Trọng H2 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Hoàng Thị H3 từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng vụ án, T2 án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lý Thị N1 trình bày lời bào chữa: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, trình độ học vấn và nhận thức về pháp luật còn hạn chế, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 - Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù để bị cáo sớm trở về hòa nhập với gia đình và trở thành người có ích cho xã hội, bị cáo không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố L, tỉnh Lào Cai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 15/10/2024, bị cáo Lý Thị N1 đã có hành vi mua 2.100.000 đồng ma túy Ketamine về với mục đích tổ chức cùng các bị cáo Trần Trọng H2, Hoàng Thị H3 sử dụng; Bị cáo Trần Trọng H2 đã chuẩn bị địa điểm là phòng 602, khách sạn Michi's, số nhà C, đường A thuộc tổ B, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai và trực tiếp gọi điện cho lễ tân khách sạn để mượn bật lửa làm công cụ cho Hoàng Thị H3 xào ma túy Ketamine; Bị cáo Hoàng Thị H3 là người trực tiếp thực hiện việc xào ma túy để bản thân và Lý Thị N1, Trần Trọng H2 sử dụng. Khối lượng ma túy còn lại sau khi các bị cáo sử dụng là 0,581 (Không phẩy năm trăm tám mươi mốt) gam Ketamine. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận các bị cáo đã có hành vi cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhau sử dụng, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

  3. Về vai trò của các bị cáo:

    Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ giữa các bị cáo. Bị cáo Lý Thị N1 là người khởi xướng và trực tiếp mua 2.100.000 đồng ma túy Ketamine về để cùng sử dụng với Trần Trọng H2 và Hoàng Thị H3 nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, bị cáo Trần Trọng H2 đã chuẩn bị địa điểm là phòng 602, khách sạn Michi's, số nhà C, đường A thuộc tổ B, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai và trực tiếp gọi điện cho lễ tân khách sạn để mượn bật lửa làm công cụ cho Hoàng Thị H3 xào ma túy Ketamine; Bị cáo Hoàng Thị H3 là người trực tiếp thực hiện việc xào ma túy để bản thân và Lý Thị N1, Trần Trọng H2 sử dụng nên các bị cáo Trần Trọng H2, Hoàng Thị H3 phải chịu trách nhiệm với vai trò sau bị cáo Lý Thị N1.

  4. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết pháp luật, mặc dù biết việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành, cố ý thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn

  5. thành phố L. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật, cần áp dụng hình phạt tù, có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội

  6. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra, bị cáo Trần Trọng H2 có có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị H1 được Nhà nước tặng thưởng Huy chương vì An ninh tổ quốc; Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì, hạng Ba, bị cáo Hoàng Thị H3 có bố đẻ là ông Hoàng Văn B được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu tặng Giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua yêu nước giai đoạn 2015- 2020 và đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự mà các bị cáo Trần Trọng H2, Hoàng Thị H3 được hưởng khoan hồng của pháp luật.

    Về nhân thân: Bị cáo Trần Trọng H2 là người có nhân thân xấu, tại quyết định số 43/QĐ-XPHC ngày 03/5/2005 Công an thành phố L đã xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với hành vi trộm cắp. Đến nay tiền sự này đã được xóa.

  7. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

  8. Về vật chứng vụ án: Đối với 05 (năm) bình kim loại; 01 (một) chiếc bật lửa không có giá trị sử dụng; 0,493 gam ma túy Ketamine còn lại sau trích mẫu giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

    Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max; số IMEI 355216227407510; bên trong có 01 (một) sim điện thoại (điện thoại đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, số IMEI: 357201097248812; bên trong có 01 (một) sim điện thoại (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Trân Trọng H2, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro; số IMEI: 356961136319368, bên trong có 01 (một) sim điện thoại (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Lý Thị N1. Các bị cáo sử dụng điện thoại để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

    Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Phone 6s Plus; số IMEI 355718070340706; bên trong có 01 (một) sim điện thoại (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Hoàng Thị H3, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, số IMEI: 357201097248812; bên trong có 01 (một) sim điện thoại

  9. (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của Trần Trọng H2 quá trình điều tra xác định các bị cáo không sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo còn phải thi hành tiền án phí, do đó, cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

    Đối với số tiền 10.000 đồng thu giữ trong quá trình điều tra xác định là công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là phù hợp.

    Gỡ niêm phong và tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.000 đồng là công cụ các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội được niêm phong do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi vào kho bạc Nhà nước tỉnh Lào Cai là phù hợp.

  10. Về các vấn đề khác: Đối với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Lý Thị N1 về điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, quyết định mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, đồng thời cũng thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước và quy định của pháp luật.

    Đối với Kim Văn P, thường trú tại tổ B, phường L, thành phố L, tỉnh Lào Cai là người đã mua hộ Lý Thị Nga 01 (một) túi ma túy Ketamine với giá 2.100.000 đồng ngày 15/10/2024. Cơ quan điều tra đã xác minh và triệu tập Kim Văn P đến làm việc, quá trình làm việc Kim Văn P không thừa nhận đã mua hộ ma túy cho Lý Thị N1. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Lý Thị N1 và Kim Văn P nhưng không có kết quả, ngoài lời khai của Lý Thị N1 không có tài liệu nào khác chứng minh nên không đủ căn cứ để kết luận Kim Văn P là người đã mua hộ ma túy cho Lý Thị N1 nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Ngày 15/10/2024, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố L đã bắt quả tang Kim Văn P về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, hiện Kim Văn Phương đã bị khởi tố để điều tra trong một vụ án khác.

  11. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136- Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lý Thị N1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Lý Thị N1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 15/10/2024.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Trần Trọng H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Trần Trọng H2 02 (Hai) năm 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 15/10/2024.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị H3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Phạt bị cáo Hoàng Thị H3 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo 15/10/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) bình kim loại, đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc bật lửa, đã qua sử dụng; 0,493 gam ma túy Ketamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong vào 01 bì thư in sẵn của Phòng K Công an tỉnh L. Trên một mặt của bì biêm phong có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Lý Thị N1, Trần Trọng H2, Hoàng Thị H3 tại phòng 602, khách sạn M, số C, đường A, tổ B, phường K, thành phố L, tỉnh Lào Cai ngày 15/10/2024";

    Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max; số IMEI 355216227407510; bên trong có 01 (một) sim điện thoại (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của Trần Trọng H2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro; số IMEI: 356961136319368, bên trong có 01 (một) sim điện thoại (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Lý Thị N1;

    Tạm giữ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Phone 6s Plus; số IMEI 355718070340706; bên trong có 01 (một) sim điện thoại (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của Hoàng Thị H3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS, số IMEI: 357201097248812; bên trong có 01 (một) sim điện thoại (điện thoại đã qua sử dụng) thu giữ của Trần Trọng H2;

    (Vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2025)

    Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 10.000 đồng (Mười nghìn đồng) theo giấy nộp tiền ngày 24/01/2025 do Công an thành phố L nộp tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Lào Cai.

    Gỡ niêm phong và tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 2.000 đồng được niêm phong bằng 01 bì niêm phong do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L gửi vào kho bạc Nhà nước Lào Cai với đặc điểm: Bì niêm phòng được dán kín xung quanh, mép dán ngang của bì niêm phong có 02 (Hai) chữ ký của những người tham gia niêm phong và 02 (Hai) hình dấu tròn đỏ của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L. Trên mặt trước của bì niêm phong ghi “Tiền tạm giữ trong vụ Lý Thị N1 cùng đồng phạm có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày 15/10/2024: 01 tờ tiền ngân hàng N3 2.000 đồng”;

    (Thể hiện tại biên bản giao nhận tài sản số 16/2025/BBBG-KBLC ngày 12/02/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Kho bạc Nhà nước L1)

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường

    vụ Quốc hội buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

"Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự".

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lào Cai (1);
  • - TAND tỉnh Lào Cai (1);
  • - VKSND TP. Lào Cai (1);
  • - Sở Tư pháp (1); Trại TG;
  • - CQCSĐT CATP (1);
  • - Bị cáo (3); NBC;
  • - THA DS TP. Lào Cai (1);
  • - HS THA HS (1);
  • - Lưu văn phòng (1)
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 45/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LÝ THỊ N CÙNG ĐỒNG PHẠM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger