|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2025/HS-ST Ngày 18/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Hà.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Thúy, ông Cà Văn Thanh.
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lường Khánh Ly, Thư ký Tòa án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mai Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 09/2025/HSST-QĐ ngày 18 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Vì Đức C tên gọi khác: Không; sinh ngày 16/11/2005huyện M, tỉnh Sơn LaNơi cư trú: Bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn LaTrình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Vì Văn Đ, sinh năm 1975 và bà Lò Thị T, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12 tháng 11 năm 2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 03 giờ 00 phút ngày 12/11/2024, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế Ma túy Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ E, phường C, thành phố S phát hiện một người nam giới mặc áo khoác màu đen đang đi bộ ven đường, có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra đối với nam thanh niên đồng thời mời người chứng kiến việc kiểm tra. Quá trình kiểm tra nam thanh niên tự khai tên là Vì Đức C, sinh năm 2005, cư trú tại bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, đồng thời C tự giác lấy trong túi quần phía sau bên phải đang mặc ra 01 gói được cuốn bên ngoài bằng băng dính nhựa màu đen, mở ra bên trong là lớp giấy bạc màu trắng, mở lớp giấy bạc màu trắng ra bên trong có chứa 03 viên nén màu hồng giao nộp cho tổ công tác (C khai 03 viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến cất giữ để sử dụng). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vì Đức C về hành vi cất giữ trái phép chất nghi là ma túy và thu giữ niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 2031/KL - KTHS ngày 13/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “- Mẫu ký hiệu V gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,19 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,29 gam; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT- VKSTP ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vì Đức C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Vì Đức C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố S đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: :
- -Tuyên bố bị cáo Vì Đức C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Vì Đức C từ 14 (mười bốn) đến 18 (mười tám) tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- - Về vật chứng của vụ án đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh băng dính nhựa màu đen, 01 mảnh giấy bạc màu trắng, mẫu lưu C = 0,10 gam được niêm phong trong 01 phong bì công văn Công an thành phố S, bên ngoài được dán kín bằng giấy niêm phong số 0075186.
- Về án phí: Bị cáo Vì Đức C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo V Đức C thừa nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Ngày 12/11/2024, Vì Đức C đã có hành vi cất giữ trái phép 0,29 gam Methamphetaminetrong người với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực ngã tư D thuộc tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 03 giờ 00 phút ngày 12/11/2024 tại khu vực ngã tư D thuộc tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 2031/KL - KTHS ngày 13/11/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S; bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo tại giai đoạn điều tra, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hành vi cất giữ trái phép 0,29 gam Methamphetamine để sử dụng của bị cáo Vì Đức C phạm tội Tàngtrái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe đối với bị cáo, đảm bảo biện pháp giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định và không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về nguồn gốc 0,29 gam Methamphetamine bị thu giữ, bị cáo khai nhận mua của người nam giới không quen biết vào ngày 12/11/2024 tại khu vực ngã tư D thuộc tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma tuý còn lại sau khi trừ trích rút giám định và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tuyên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Vì Đức C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Vì Đức C 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong đã bóc mở; 01 mảnh băng dính nhựa màu đen, 01 mảnh giấy bạc màu trắng, mẫu lưu C = 0,10 gam được niêm phong trong 01 phong bì công văn Công an thành phố S, bên ngoài được dán kín bằng giấy niêm phong số 0075186.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Vì Đức C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Vì Đức C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 18/3/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Hà |
Bản án số 44/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 44/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vì Văn C phạm tội TTTPCMT
