Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/DS-PT

Ngày 17 tháng 3 năm 2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp

đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Hương Giang

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Bà Nguyễn Thị Hằng.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Thương Hiền - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 2 và ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 241/2024/TLPT-DS ngày 12/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 308/2024/QĐ-PT ngày 11/12/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 451/2024/QĐ-PT ngày 19/12/2024; Quyết định tạm ngừng số 16/2025/QĐ-PT ngày 17/01/2025 và số 32/2025/QĐ-PT ngày 17/02/2025 giữa:

Nguyên đơn: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1952 (có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1958(có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1945 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông L: Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1966 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Bà Đào Thị H3, sinh năm 1956 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Nguyễn Văn K, sinh năm 1978 (có mặt)

- Dương Thị H4, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1958 (có mặt phiên tòa ngày 17/2/2025, vắng mặt phiên tòa ngày 17/3/2025)

Địa chỉ: thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

-Anh Nguyễn Văn H5, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Trú tại: Đồi Đ, thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắc Lắc.

- Anh Nguyễn Văn Y, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắc Lắc.

- Anh Nguyễn Văn H6, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắc Lắc.

-Chị Nguyễn Thị H7, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Trú tại: Thôn V, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Ông Vũ Trí B, sinh năm 1975 ( có mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang

- Bà Trần Thị M, sinh năm 1972 (có mặt phiên tòa ngày 17/2/2025, vắng mặt phiên tòa ngày 17/3/2025)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Người kháng cáo: Bà Vũ Thị H là nguyên đơn và ông Nguyễn Văn H1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn là bà Vũ Thị H và đại diện theo ủy quyền trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn L kết hôn năm 1974. Sau khi kết hôn thì vợ chồng bà sinh sống tại thôn Đ, xã V. Đến năm 1992, hộ gia đình bà được Nhà nước giao 25 thửa đất nông nghiệp có tổng diện tích 9459m² thuộc địa chỉ thôn H (nay là thôn Đ), xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại thời điểm giao ruộng thì gia đình bà gồm có: Ông Nguyễn Văn L, bà (Vũ Thị H), chị Nguyễn Thị H7, anh Nguyễn Văn H5, anh Nguyễn Văn Y, anh Nguyễn Văn H6. Năm 1999, gia đình bà vào miền nàm làm ăn kinh tế tại tỉnh ĐăkLăk. Đến năm 2000 thì gia đình bà được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đất nông nghiệp được giao.

Trước khi bà vào miền N làm ăn thì bà có cho con cháu, anh em làm ruộng của bà và trả bà thóc gồm những người là: Ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn T, ông Vũ Trí B, ông Đào Đăng T1, ông Đặng Văn T2, ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị M. Hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau là 20kg/sào/01năm, trả luôn 10 năm là 200.000 đồng một người/01 sào. Bà đã nhận tiền của những người trên. Năm 2009, bà có về làm lại giấy viết tay về việc thầu ruộng, trong đó có hộ ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn H1, ông Đào Văn T3, ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị M, còn 03 không có nhà nên bà không gặp được không ký lại giấy.

Đến năm 2016, xã V có chính sách dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp cho tiện canh tác, bà có về UBND xã V để làm thủ tục dồn điền và đóng các khoản đóng góp cho Nhà nước. Dồn từ 25 thửa thành 06 thửa. Sau khi dồn điền đổi thửa xong bà có đi nhận ruộng. Do công việc bà lại vào miền N nên bà có cho ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang là cháu của ông L quản lý, sử dụng phần diện tích đất đã dồn điền, khi nào vợ chồng bà ở miền N về sẽ lấy lại để canh tác. Do ông L bị bệnh tai biến và dịch Covid nên đến năm 2022 vợ chồng bà mới về ở tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Bà có đến gặp ông N để lấy lại ruộng canh tác thì ông N có bảo là diện tích ruộng 1800m² tại khoảnh số 12, ô số 15 tại xứ đồng L, thuộc thôn Đ hiện ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1958, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang quản lý sử dụng. Lý do ông H1 làm diện tích đất này là do ông H1 có đến bảo ông N là bà đã bán cho ông H1 đất này. Khi bà sang gặp ông H1 để hỏi thì ông H1 không gặp, con ông H1 là anh Nguyễn Văn K có nói là sẽ trả bà tiền mua ruộng, còn ruộng của bà thì gia đình thì ông H1 và anh K đã đào ao thả cá. Sau này thì gia đình ông H1 tuyên bố không trả ruộng nhà bà. Bà khẳng định bà không có bán ruộng cho gia đình ông H1 như ông H1 khai. Hiện phần diện tích đất ruộng 1800m² tại khoảnh số 12, ô số 15 ông H1 đã múc đất để làm ao thả cá. Phần diện tích đất này có các cạnh tiếp giáp như sau: Phía Nam giáp đường đi; phía Đông giáp ruộng nhà bà H8; phía Tây giáp đê; phía Bắc Giáp M1.

Bà đã làm đơn ra UBND xã V để hòa giải nhưng gia đình ông H1 không đồng ý trả ruộng cho gia đình bà nên việc hòa giải không thành. Nay bà làm đơn này yêu cầu Tòa án buộc gia đình ông Nguyễn Văn H1 phải trả cho gia đình bà diện tích đất 1800m² tại khoảnh số 12, ô số 15 tại xứ tại xứ đồng L, thuộc thôn Đ và buộc gia đình ông Nguyễn Văn H1 phải khôi phục lại hiện trạng đất trồng lúa cho gia đình bà.

Bị đơn là ông Nguyễn Văn H1 trình bày:

Ông và ông Nguyễn Văn L có quan hệ họ hàng với nhau. Năm 1999, gia đình ông L vào miền nam làm ăn nên có đến gặp ông và bảo ông mua đất ở của nhà ông L và kèm theo 05 thửa ruộng canh tác của hộ ông L gồm:

  • Thửa diện tích 360m² ở xứ đồng Đ;
  • Thửa diện tích 384m² ở xứ đồng Lò Ngói;
  • Thửa diện tích 288m² ở xứ đồng Đ;
  • Thửa diện tích 360m² ở xứ đồng Cánh Cốc;
  • Thửa diện tích 216m² ở xứ đồng Lò Ngói.

Và thước đám mạ không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi mua bán đất ở có lập thành văn bản và có ký xác nhận của UBND xã V. Diện tích đất ở đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của con trai ông là anh Nguyễn Văn K. Tiền mua đất ruộng tính riêng. Khi mua bán hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau không lập thành văn bản, giá mua từ 200.000 đồng – 300.000 đồng/01 sào. Tùy vào vị trí ruộng đẹp thì tiền cao, ruộng xấu thì tiền thấp. Ông là người trả tiền cho bà H, khi trả tiền hai bên không viết giấy tờ gì, ông chỉ viết thêm là mua ruộng vào giấy tờ mua bán đất để làm căn cứ, còn bà H, ông L không ký gì vào văn bản.

Sau khi mua thì ông có cho con trai cả tên là Nguyễn Văn K, sinh năm 1978 và vợ là Dương Thị H4, sinh năm 1982 địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang phần diện tích đất ở và 05 thửa ruộng mua của bà H, ông L. Vợ chồng anh K, chị H4 sử dụng diện tích đất mua này từ năm 2000 đến khi dồn điền đổi thửa năm 2016 thì nhận ruộng đã dồn điền mới không còn vị trí ruộng như cũ nữa. Trong thời gian sử dụng ruộng mua của hộ ông L thì gia đình anh K, chị H7 hàng năm đều đóng các khoản đóng góp cho thôn, cho xã. Kể từ khi mua cho đến khi xảy ra tranh chấp thì ông cũng như anh K không gặp bà H, ông L để yêu cầu sang tên cho anh K phần đất nông nghiệp mà ông đã mua. Trong 05 thửa ruộng ông mua của hộ ông L có 01 thửa diện tích 360m² tại xứ đồng Đồng Thin khi dồn điền đổi thửa thì anh K là con trai ông có đến gặp ông Nguyễn Văn N để thỏa thuận là phần diện tích ruộng ở xứ đồng khu L để anh K bốc phiếu còn phần ruộng ở xứ Đ thì ông N bốc phiếu. Ngoài đổi cho ông N thì anh K không đổi với ai khác mà được bốc chung 01 phiếu ở xứ đồng L. Tổng diện tích sau khi dồn điền là 1800m². Phần diện tích đất này chưa sang tên cho anh K.

Phần diện tích 1800m² ở xứ đồng Lò Ngói anh K có hạ thấp mặt ruộng xuống để lấy đất đắp lên bờ cho chuột đỡ phá. Hiện tại anh K đang thả cá. Trường hợp mà muốn cấy thì vẫn cấy bình thường. Nay quan điểm của ông về việc bà H khởi kiện đòi lại 1800m² đất nông nghiệp ông không nhất trí. Ông xác định là ông có mua của bà H phần diện tích đất nông nghiệp này nên ông đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa ông và bà H xác lập bằng miệng năm 1999 có hiệu lực pháp luật.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn K trình bày:

Anh là con của ông Nguyễn Văn H1. Năm 1999 anh lấy vợ là chị Dương Thị H4. Sau khi kết hôn vợ chồng anh có được bố anh là ông H1 cho phần diện tích đất ở hơn 02 sào mua của nhà ông L và 05 thửa ruộng canh tác của hộ ông L gồm:

  • Thửa diện tích 360m² ở xứ đồng Đ;
  • Thửa diện tích 384m² ở xứ đồng Lò Ngói;
  • Thửa diện tích 288m² ở xứ đồng Đ;
  • Thửa diện tích 360m² ở xứ đồng Cánh Cốc;
  • Thửa diện tích 216m² ở xứ đồng Lò Ngói.

Sau khi được cho đất ở thì vợ chồng đã đến cơ quan nhà nước làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích đất ở của nhà anh năm 2000, anh ở đến năm 2021 thì anh có bán diện tích đất trên cho người khác.

Còn phần đất nông nghiệp thì vợ chồng anh vẫn sử dụng, canh tác từ khi được cho năm 2000 đến giờ. Khi dồn điền đổi thửa thì anh có gặp ông N để đổi thửa ruộng 360m² ở xứ đồng Đ để lấy diện tích ruộng 360m² ở xứ đồng Lò Ngói cho tiện canh tác. Bốc phiếu thì nhà anh được tổng diện tích 1800m² hiện anh đã hạ thấp ruộng đắp bờ để vừa thả cá và cấy lúa. Khi làm việc này anh không xin phép ý kiến của Nhà nước mà tự làm. Hiện nay anh đang thả cá trên phần diện tích đất ruộng này.

Việc bố anh mua bán giữa bố anh và ông L, bà H anh không được chứng kiến mà chỉ nghe bố anh nói lại. Sau này bố anh cho anh thì anh sử dụng đến nay. Từ khi được cho đến nay thì anh cũng chưa gặp bà H để yêu cầu sang tên cho anh theo quy định của pháp luật. Nay bà H khởi kiện yêu cầu bố anh trả lại phần diện tích đất đã mua quan điểm của anh là không nhất trí vì đất này bố anh và vợ chồng bà H đã mua bán xong. Nay bố anh yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa bố anh và vợ chồng bà H có hiệu lực pháp luật anh nhất trí. Trường hợp tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H thì anh sẽ đồng ý hoàn trả hiện trạng để đảm bảo cho việc cấy lúa, còn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H thì ruộng là của anh và bà H phải làm thủ tục sang tên cho anh theo quy định của pháp luật.

Khi anh hạ ruộng, đắp bờ thì anh thuê máy xúc làm hết công là hết hơn 10.000.000 đồng. Đất anh múc thì đắp bờ không bán cho ai. Phần diện tích đất 171,m² của thửa ruộng sau dồn điền đổi thửa năm 2016 sau khi xem xét thẩm định tại chỗ không nằm trong diện tích ruộng anh đang sử dụng là do anh có đổi một phần ruộng dồn điền đổi thửa năm 2016 với nhà ông Đặng Văn T4 để lấy một phần diện tích đất của hộ nhà ông T4 tiếp giáp với phần ruộng nhà bà H8 để cho tiện canh tác. Trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H thì anh sẽ tự giải quyết với nhà ông T4 đối với phần diện tích 171m² này.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ông và ông Nguyễn Văn L có quan hệ họ hàng với nhau. Năm 1999, gia đình ông L vào miền N làm ăn nên có đến gặp ông và bảo ông mua ruộng canh tác của hộ gia đình ông L. Ông có mua 05 thửa ruộng canh tác của hộ ông L gồm:

  • Thửa diện tích 408m² ở xứ đồng Ô To;
  • Thửa diện tích 384m² ở xứ đồng Ba Ao;
  • Thửa diện tích 528m² ở xứ đồng Dộc Hàng;
  • Thửa diện tích 384m² ở xứ đồng Bờ Bến;
  • Thửa diện tích 360m² ở xứ đồng Lò Ngói.

Khi mua bán, hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau không lập thành văn bản, giá mua từ 200.000 đồng – 300.000 đồng/01 sào. Tùy vào vị trí ruộng đẹp thì tiền cao, ruộng xấu thì tiền thấp. Vợ ông là bà Trần Thị S, sinh năm 1957 đã đưa tiền mua ruộng cho bà H và bà H đã đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ ông L cho ông giữ. Gia đình ông sử dụng diện tích đất mua này từ năm 1999 đến khi dồn điền đổi thửa năm 2016 thì nhận ruộng đã dồn điền mới không còn vị trí ruộng như cũ nữa. Trong thời gian sử dụng ruộng mua của hộ ông L thì gia đình ông hàng năm đều đóng các khoản đóng góp cho thôn, cho xã. Kể từ khi mua cho đến khi xảy ra tranh chấp thì ông có bảo bà H là sang tên cho vợ chồng ông phần diện tích đã bán khi thực hiện dồn điền nhưng bà H không nhất trí. Lý do vì sao thì ông không rõ. Trong 05 thửa ruộng ông mua của hộ ôn Liễu có 01 thửa diện tích 360m² tại xứ đồng Lò Ngói khi dồn điền đổi thửa thì anh K là con ông H1 có đến gặp ông để thỏa thuận là đổi cho ông phần diện tích ruộng ở xứ đồng khu Dộc Hàng để ông bốc phiếu còn phần ruộng ở xứ Lò Ngói anh K bốc phiếu. Ông xác định phần diện tích đất 1800m² bà H đang khởi kiện đòi của ông H1 có 360m² đất nông thiệp ông mua của hộ ông L. Phần ruộng ông mua của hộ ông L hiện ông vẫn đang quản lý sử dụng. Ông có cho bà H mượn khoảng hơn 900m2 tại xứ đồng Dộc Hàng để cấy lấy thóc ăn, sau này bà H, ông L không dùng phải trả lại cho ông.

- Ông Nguyễn Văn L cùng người đại diện theo ủy quyền là bà Vũ Thị Hòa đồng Ý với ý kiến bà H đã trình bày và không có ý kiến gì khác.

- Anh Nguyễn Văn H5, anh Nguyễn Văn Y, anh Nguyễn Văn H6, chị Nguyễn Thị H7 đều ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Vũ Thị H đều có quan điểm, ý kiến đồng ý với ý kiến với bà H đã trình bày.

- Bà Trần Thị M trình bày:

Bà và bà H có quan hệ là người cùng xóm. Năm 1999, bà H có sang nhà bà để bảo bà mua ruộng của bà H gồm 01 thửa 09 thước tại xứ đồng Ngoài, 01 thửa 12 thước ở xứ đồng C. Khi mua bán hai bên không viết giấy tờ gì mà chỉ thoả thuận bằng miệng. Sau khi bà mua ruộng của bà H thì bà không canh tác mà cho người khác làm lấy thóc ăn. Năm 2016 xã V có chính sách dồn điền đổi thửa thì phần ruộng bà mua của bà H được bốc phiếu ở xứ đồng L. Do bà không làm ruộng nên bà có cho anh K là con ông Hữu T5 phần ruộng này và trả thóc cho bà. Toà án thông báo cho bà biết việc bà H khởi kiện yêu cầu đòi diện tích đất 1800m² trong đó có phần ruộng bà đã mua của bà H, quan điểm của bà không đồng ý. Bà H muốn lấy lại ruộng thì phải chuộc ruộng với ½ mức giá đã định giá.

- Bà Dương Thị H4 đã được Toà án giao văn bản tố tụng và tiến hành lấy lời khai tuy nhiên chị H4 không cung cấp lời lai cho Toà án.

- UBND xã V do ông Nguyễn Văn Đ – Chủ tịch UBND xã đại diện theo pháp luật trình bày:

Năm 2000 hộ gia đình ông Nguyễn Văn L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm 25 thửa có tổng diện tích 9459m², được đăng ký tại trang số 47, 48 sổ địa chính xã V số 03. Năm 2016 thôn Đ (nay là thôn Đ) thực hiện dồn điện đổi thửa, hộ ông L được Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn giao 06 thửa với tổng diện tích 9315,6m². Được UBND xã Vũ Xá phê duyệt kết quả dồn diền, đổi thửa tại Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 05/08/2016 về việc phê duyệt kết quả dồn diền, đổi thửa thôn Đ, xã V. Được Hội đồng nghiệm thu ngày 29/08/2016. Ngày 12/9/2016 UBND huyện L ban hành Quyết định số 753/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả dồn điền, đổi thửa tại thôn Đ, xã V. Đối với diện tích đất 1800m2 tại khoảnh số 12, ô số 15 tại xứ đồng L, thuộc thôn Đ hiện đang có tranh chấp giữa bà H, ông H1 có nguồn gốc của các hộ trong thôn Đ 5 cũ (nay là thôn Đ) đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: hộ ông Nguyễn Văn N1 648m², hộ ông Nguyễn Văn L 360m², hộ ông Đặng Văn N2 384m², hộ ông Đặng Văn T6 288m², hộ ông Đặng Văn T7 624m². Thời điểm dồn điền đổi thửa năm 2016 thì diện tích đất nông nghiệp của hộ ông Nguyễn Văn L do ông Nguyễn Văn N (cháu ruột của ông L) thực hiện đóng góp tiền san gạt ruộng, bốc phiếu, nhận ruộng ngoài thực địa. Việc ông H1 mua của bà H, ông L diện tích 1800m2 tại khoảnh số 12 ô số 15 tại xứ đồng Lò Ngói năm 1999, các hộ thời điểm đó mua bán thỏa thuận miệng không có giấy tờ viết tay, không làm thủ tục đăng ký biến động tại UBDN xã V. Việc ông Nguyễn Văn K thay đổi hiện trạng của diện tích đất 1800m² tại khoảnh số 12 ô số 15 tại xứ đồng Lò Ngói từ đất nông nghiệp sang đất nuôi trồng thủy sản chuyển đổi cơ cấu cây trồng không theo kế hoạch của UBND xã. Qua quá trình kiểm tra hồ sơ xác định hộ ông Nguyễn Văn L vợ là Vũ Thị H có đầy đủ quyền của người sử dụng đất với diện tích đất nông nghiệp đã được giao.

- Ủy ban nhân dân huyện L trình bày:

Năm 2000, hộ ông Nguyễn Văn L được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 25 thửa có tổng diện tích 9.459m2 đất nông nghiệp, được đăng ký tại trang số 47, 48 Sổ địa chính số 03 của xã V, huyện L.

Năm 2016, thực hiện Kế hoạch dồn điền đổi thửa đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn xã V, trong đó có thôn Đ. Thôn Đ đã thành lập Tiểu ban dồn điền đổi thửa, theo đó thì đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của gia đình ông L, bà H đã được thôn dồn điền, đổi thửa thành 06 thửa với tổng diện tích là 9.315,6m². Kết quả này của Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Đồng Công đã được UBND xã Vũ Xá phê duyệt tại Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 05/8/2016 về việc phê duyệt kết quả dồn điền, đổi thửa thôn Đ, xã V. Ngày 29/8/2016 đã được Hội đồng nghiệm thu của UBND huyện L nghiệm thu. Ngày 12/9/2016, UBND huyện L đã ban hành quyết định số 753/QĐ-UBND phê duyệt kết quả dồn điền, đổi thửa tại thôn Đ, xã V. Hiện nay, toàn bộ diện tích 9.315,6m² đất nông nghiệp của gia đình ông L, bà H chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Sau khi kiểm tra toàn bộ Hồ sơ dồn điền, đổi thửa đối với 06 thửa với tổng diện tích là 9.315,6m2 của gia đình ông L, bà H thì thấy toàn bộ thủ tục, trình tự, thẩm quyền của việc dồn điền đổi thửa đều được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Gia đình ông L, bà H có đầy đủ các quyền của người sử dụng đất đối với tổng diện tích là 9.315,6m² đất nông nghiệp được giao.

Toàn bộ tài liệu, thông tin có trong hồ sơ dồn điền, đổi thửa đối với toàn bộ diện tích 9.315,6m² đất nông nghiệp của hộ ông Nguyễn Văn L và bà Vũ Thị H có địa chỉ tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được UBND xã V cung cấp cho Tòa án nhân dân huyện Lục Nam đầy đủ, UBND huyện L không cung cấp thêm tài liệu gì mới.

Sau khi hoàn tất thủ tục dồn điền, đổi thửa đối với toàn bộ diện tích 9.315,6m² đất nông nghiệp của hộ ông Nguyễn Văn L thì đến năm 2022 bà Vũ Thị H có đơn khởi kiện ông Nguyễn Văn N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích 9.315,6m² nói trên. Việc khởi kiện của bà Vũ Thị H đã được UBND xã V hòa giải nhiều lần nhưng các bên không thống nhất được nên bà H đã gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Lục Nam để giải quyết theo thẩm quyền. Toàn bộ tài liệu giải quyết tranh chấp đất tại UBND xã V đã được bà Vũ Thị H cung cấp đầy đủ, UBND huyện L không cung cấp thêm tài liệu gì mới.

Trong quá trình giải quyết vụ án bà H cung cấp chứng cứ là giấy viết tay có chữ ký của ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn N, ông Trần Văn T8, ông Nguyễn Văn C ghi ngày 02/12/2009 (âm lịch) tức ngày 16/11/2010. Ông Nguyễn Văn H1 không đồng ý với chứng cứ bà H cung cấp và có đơn đề nghị giám định chữ viết chữ ký của ông H1 tại chứng cứ nêu trên. Tại kết luận giám định số 129/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của phòng K1 công an tỉnh B kết luận chữ viết có nội dung “Nguyễn Văn H1” tại dòng thứ 9 tính từ dưới lên trên tại liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ viết mang tên Nguyễn Văn H1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1-M13) là do cùng một người viết.

Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với phần diện tích đất đang tranh chấp, kết quả như sau:

Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Thửa đất ở xứ đồng Lò Ngói, thửa số 130, tờ bản đồ số 46 có diện tích là 1999,1m². Có vị trí tiếp giáp như sau:

  • Phía Nam giáp đường đi;
  • Phía Đông giáp ruộng nhà bà H8;
  • Phía Tây giáp đường đi;
  • Phía Bắc giáp mương.

Phần diện tích đất nông nghiệp này hiện tại vợ chồng anh Nguyễn Văn K, chị Dương Thị H4 đang quản lý sử dụng. Hiện trạng diện tích đất này anh K, chị H4 đã cải tạo thay đổi hiện trạng từ đất trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản. Anh K, chị H4 có thầu thêm ruộng của bà H8 và cải tạo thành ao nuôi cá. Phần khối lượng đất trong diện tích đất nông nghiệp bà H đang khởi kiện đòi lại có khối lượng múc đắp lên bờ là 1320,48m³ đất.

Kết quả định giá xác định giá đất nông nghiệp tại địa phương tại thời điểm định giá có giá 115.000 đồng/m². Giá 01 m³ đất múc lên có giá 25.000 đồng/m³.

Giá trị phần diện tích đất đang tranh chấp có giá: 1999,1m² x 115.000 đồng = 229.896.500 đồng;

Giá trị phần khối lượng đất đã bị múc lên đắp bờ có giá: 1320,48m³ x 25.000 đồng = 32.012.000 đồng

- Tại biên bản làm việc ngày 18/01/2024, ông Hoàng Văn Q cung cấp: Ông làm trưởng thôn Đồng Công từ năm 2009 đến năm 2019 và là công dân của thôn Đ. Hộ gia đình bà H, ông L trước đây là công dân của thôn Đ. Năm 1999, gia đình ông L có chuyển đi Đ làm ăn kinh tế mới. Quá trình sinh sống tại địa phương gia đình ông L có được Nhà nước giao cho quản lý và canh tác một số ruộng nông nghiệp, diện tích cụ thể ông không nhớ nhưng đã được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trước khi gia đình chuyển đi thì số ruộng nông nghiệp này gia đình ông L có bán, cho hay nhờ ai trông nom thì ông không rõ. Nhưng thực tế, ông N có quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông L. Khi địa phương có kế hoạch thu bất cứ loại phí gì của Nhà nước thì ông N là người đứng ra nộp cho thôn đối với những thửa ruộng nhà ông L, mọi khoản đóng góp ông N đều đóng đầy đủ. Từ năm 1999 đến khoảng năm 2021, gia đình bà H không sinh sống tại địa phương và cũng không canh tác ruộng nông nghiệp tại địa phương, gia đình bà H có về quê nhưng không có tranh chấp gì. Những thửa ruộng của bà H vẫn được canh tác, cụ thể là những ai canh tác thì ông không rõ.

Năm 2016, huyện L có chính sách dồn điền đổi thửa đối với ruộng nông nghiệp trên địa bàn cả xã V trong đó có thôn Đ. Thực hiện kế hoạch của xã V và huyện L thì thôn Đ có thành lập tiểu ban dồn điền đổi thửa có 07 thành viên, trong đó ông là trưởng tiểu ban. Tiểu ban của ông đã thực hiện đúng quy trình, trình tự theo hướng dẫn của Ủy ban nhân dân xã V, đã họp dân và công khai đến toàn dân trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Theo đó, ông N là người cung cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ ông L, bà H. Ông đã lập danh sách diện tích đất nông nghiệp của hộ ông L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L và ông N là người ký nhận toàn bộ danh sách, giấy tờ liên quan đến diện tích đất nông nghiệp của hộ ông L nhưng ký tên là Nguyễn Văn L. Ông N ký tên ông L để phù hợp với tên của hộ ông L tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông L. Tiểu ban đã lập danh sách và cấp lại đủ diện tích cho hộ ông L theo đúng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông L. Cụ thể hộ ông L sau khi dồn điền được chia làm 4 phiếu:

Phiếu số 1 ở xứ đồng Dộc Hàng, khoảnh số 7, ô đất số 7 có diện tích là 3.766,8m².

Phiếu số 2 ở xứ đồng B, khoảng số 8, ô đất số 11 có diện tích là 1.329,6m².

Phiếu số 3 ở xứ đồng Bờ Bến được chia là 2 thửa là khoảnh số 20, ô đất số 15 có diện tích là 1.055m² và khoảnh số 20, ô đất số 16 có diện tích là 795,2m².

Phiếu số 4 ở xứ đồng L, T, Cánh C1, khoảnh số 12 được chia là 2 thửa là ô số 13 có diện tích là 1.800m² và ô số 14 có diện tích là 569m².

Tổng diện tích của hộ ông L sau khi dồn điền đổi thửa là 9.315,6m². So với diện tích ban đầu được cấp (9.459m²) thì có giảm đi 143,4m². Lý do giảm là diện tích này trừ vào diện tích làm đường, mương máng.

Sau khi làm xong thủ tục dồn điền đổi thửa thì tiểu ban đã công khai kết quả trên toàn thôn, gia đình ông L và ông N không có ý kiến gì về diện tích này. Tiểu ban đã hoàn thiện thủ tục và gửi về Ủy ban nhân dân xã V để phê duyệt. Hiện nay cả hai thôn Đ đều chưa được cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi dồn điền đổi thửa. Sau đó ai là người canh tác những thửa ruộng này thì ông không được biết. Năm 2019, ông nghỉ làm trưởng thôn nên hiện nay ông không rõ những thửa ruộng này của gia đình bà H.

- Tại biên bản làm việc ngày 18/01/2024, ông Nguyễn Văn N1 cung cấp:

Ông là công dân của thôn Đ, xã V, huyện L. Ông sinh ra, lớn lên và sinh sống tại thôn Đ, hiện nay ông cũng đang sinh sống tại thôn Đ.

Khoảng năm 1999, gia đình ông L, bà H là công dân thôn Đ có chuyển đi sinh sống, làm ăn kinh tế mới tại M nam. Quá trình sinh sống tại địa phương hộ ông L có được Nhà nước giao cho quản lý và sử dụng đất nông nghiệp, diện tích cụ thể thì ông không biết nhưng đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trước khi chuyển đi, gia đình bà H, ông L có bán cho một số người dân trong thôn, trong đó có gia đình ông N, ông H1 và một số người khác. Từ năm 1999 đến năm 2020, gia đình bà H không sinh sống tại địa phương, không canh tác ruộng đất nông nghiệp mà các hộ đã mua ruộng của bà H canh tác và không có tranh chấp với ai. Thực tế các bên mua bán như thế nào thì ông không được biết. Năm 2016, Nhà nước có chính sách dồn điền đổi thửa, ông N là người đứng ra làm thủ tục dồn điền đổi thửa cho những thửa ruộng nhà bà H, nhà bà H được giao lại đủ diện tích theo diện tích tại sổ đỏ.

Với nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DS-ST ngày 20/9/2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 16/2024/QĐ-SCBSQĐ ngày 02/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, đã quyết định:

Căn cứ Điều 106 Luật đất đai năm 2003;Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 166, Điều 170, Điều 188, Điều 202, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 26, Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 158; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H.

Buộc ông Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn K, chị Dương Thị H4 phải trả bà Vũ Thị H, ông Nguyễn Văn L diện tích đất 1999,1m² nằm tại thửa đất số 130, tờ bản đồ số 64 tại xứ đồng Lò Ngói, địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang ứng với hình đo vẽ gồm các cạnh: 1-2; 2-3; 3-4; 4-5; 5-6; 6-7; 7-8; 8-9; 9-10; 10-11; 11-12; 12-13; 13-14; 14;15; 15-16; 16-17; 17-18; 18-19; 19-20; 20-21; 21-22; 22-1 (có sơ đồ đo vẽ kèm theo).

Giao bà Vũ Thị H, ông Nguyễn Văn L được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1999,1m² nằm tại thửa đất số 130, tờ bản đồ số 64 tại xứ đồng Lò Ngói, địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang ứng với hình đo vẽ gồm các cạnh: 1-2; 2-3; 3-4; 4-5; 5-6; 6-7; 7-8; 8-9; 9-10; 10-11; 11-12; 12-13; 13-14; 14;15; 15-16; 16-17; 17-18; 18-19; 19-20; 20-21; 21-22; 22-1 (có sơ đồ đo vẽ kèm theo)

Buộc anh Nguyễn Văn K, chị Dương Thị H4 phải khôi phục lại hiện trạng diện tích đất 1999,1m² nằm tại thửa đất số 130, tờ bản đồ số 64 tại xứ đồng Lò Ngói, địa chỉ thửa đất: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Trường hợp anh K, chị H4 không khôi phục hiện trạng ban đầu thì phải thanh toán trả cho bà Vũ Thị H, ông Nguyễn Văn L số tiền 33.012.000 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãicủa số tiền còn phải thi hành án theoquy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H1 về công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất nông nghiệp giữa ông H1, bà H và ông L.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.

Ngày 01/10/2024, ông Nguyễn Văn H1 kháng cáo bản án, với nội dung:đề nghị xem xét hủy bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngày 30/9/2024, bà Vũ Thị H nộp đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần bản án giải quyết yêu cầu của bà về việc buộc khôi phục hiện trạng đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Nguyễn Văn H1 giữ nguyên kháng cáo, đề nghị hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm do giải quyết không đúng pháp luật. Năm 1999, bà H đã bán nhà đất và ruộng cho gia đình ông. Gia đình ông đã quản lý, sử dụng liên tục từ đó đến nay. Bà H đi bao nhiêu năm, giờ quay trở lại đòi đất là không có căn cứ.

Bà Vũ Thị H trình bày: Hiện tại, anh K đã khắc phục, lấp đất trả mặt bằng. Mặc dù không được như cũ nhưng bà xin rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc khôi phục hiện trạng ban đầu của thửa đất và xin rút kháng cáo. Đối với diện tích đất tranh chấp, bà yêu cầu ông H1 và vợ chồng anh K phải trả lại diện tích đất họ đang quản lý, sử dụng nhưng nằm trong ranh giới thửa đất gia đình bà được cấp theo bản đồ dồn điền đổi thửa năm 2016. Theo sơ đồ hiện trạng thửa đất bà được xem là phần diện tích 1446,7m² đất. Do thay đổi yêu cầu khởi kiện nên bà chấp nhận chịu ½ chi phí xem xét thẩm định.

Bà Vũ Thị H2, đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn L trình bày: Bà nhất trí với yêu cầu khởi kiện và quan điểm của bà H.

Anh Nguyễn Văn K trình bày: Anh đã đổ đất, khôi phục hiện trạng đất như trước khi đào ao thả cả. Anh nhất trí việc bà H rút yêu cầu này đối với vợ chồng anh. Anh xác định diện tích đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình anh; đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn N, anh Vũ Trí B, bà Trần Thị M giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại cấp sơ thẩm.

Ông Nguyễn Văn H1 đồng ý việc rút yêu cầu của bà H về việc buộc anh K khôi phục lại hiện trạng sử dụng đất.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; cơ bản các đương sự đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; có một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H về việc buộc anh K, chị H4 phải khôi phục lại hiện trạng thửa đất số 74, tờ bản đồ 167ở xứ đồng Lò Ngói, xã V (nay là xã C) huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân hyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H. Buộc ông H1, anh K, chị H4 phải trả bà Vũ Thị H, ông Nguyễn Văn L 1446,7m² đất tại thửa đất số 74, tờ bản đồ 167 ở xứ đồng Lò Ngói, xã V (nay là xã C) huyện L, tỉnh Bắc Giang

Về chi phí xem xét thẩm định và định giá: Buộc ông H1 phải hoàn trả bà H 3.103.000 đồng. Buộc anh K và chị H4 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả bà Vũ Thị H số tiền 6.206.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: ông H1 là người cao tuổi được miễn án phí. Buộc anh K và chị H4 phải liên đới chịu 5.545.683 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Về án phí DSPT: Ông H1, bà H là người cao tuổi nên được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1].Về tố tụng: Một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai không có lý do. HĐXX xét xử vắng mặt những người này là đảm bảo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do có tranh chấp về quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 3 và khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2].Về nguồn gốc đất tranh chấp: Năm 1993, hộ ông Nguyễn Văn L (vợ là bà Vũ Thị H) được Nhà nước cấp 25 thửa đất nông nghiệp, có tổng diện tích 9.459m², địa chỉ ở thôn Đ, xã V (nay là xã C), huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00307 QSDĐ năm 2000 mang tên hộ ông Nguyễn Văn L

[3] Năm 2016, thực hiện Kế hoạch dồn điền đổi thửa đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn xã V, trong đó có thôn Đ, thôn Đ đã thành lập Tiểu ban dồn điền đổi thửa. Theo đó thì đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của gia đình ông L, bà H đã được thôn dồn điền, đổi thửa thành 06 thửa với tổng diện tích là 9.315,6m². Kết quả này của Tiểu ban dồn điền đổi thửa thôn Đồng Công đã được UBND xã Vũ Xá phê duyệt tại Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 05/8/2016 về việc phê duyệt kết quả dồn điền, đổi thửa thôn Đ, xã V; ngày 29/8/2016 đã được Hội đồng nghiệm thu của UBND huyện L nghiệm thu. Ngày 12/9/2016, UBND huyện L đã ban hành quyết định số 753/QĐ-UBND phê duyệt kết quả dồn điền, đổi thửa tại thôn Đ, xã V.

[4] Căn cứ tài liệu do UBND xã V (nay là xã C), huyện L cung cấp thì sau khi dồn điền đổi thửa, hộ ông Nguyễn Văn L được giao 06 thửa đất nông nghiệp như sau:

  • Ô đất số 7, khoảnh số 7, diện tích 3766,8m²ở xứ đồng Dộc Hàng.
  • Ô đất số 11, khoảnh số 8 có diện tích là 1.329,6m² ở xứ đồng B.
  • Ô đất số 15, 16 tại khoảnh số 20 có diện tích lần lượt là 1.055m²và 795,2m² ở xứ đồng Bờ Bến.
  • Ô đất số 13, 14, khoảnh 12 diện tích lần lượt là 1800m²và 569m²ở xứ đồng Lò Ngói, Thỉu, Cánh C1.

[5] Như vậy, các đương sự đều thừa nhận toàn bộ diện tích 9.315,6m² đất nông nghiệp nói trên có nguồn gốc từ kết quả của việc dồn điền đổi thửa các diện tích đất nông nghiệp của gia đình ông L, bà H đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2000. Do vậy, toàn bộ diện tích 9.315,6m²đất nông nghiệp nói trên thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của gia đình ông L, bà H.

[6] Bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng năm 1999, gia đình bà H, ông L chuyển đi làm ăn, sinh sống tại M nam nên đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc chuyển nhượng được thỏa thuận bằng miệng với nhau. Sau khi nhận chuyển nhượng, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trực tiếp canh tác toàn bộ diện tích đất nông nghiệp trên từ năm 1999. Sau khi dồn điền đổi thửa thì tiếp tục quản lý diện tích đất đất nông nghiệp của gia đình ông L, bà H cho đến nay. Bà H không thừa nhận việc đã chuyển nhượng diện tích đất nông nghiệp của gia đình năm 1999, cho rằng chỉ giao thầu đất nông nghiệp, khi nào bà về địa phương thì sẽ tiếp tục canh tác.

[7] Như vậy, ngoài lời khai, bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chứng minh việc nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp của bà H từ năm 1999. Tại thời điểm đồn điền đổi thửa (năm 2016), diện tích đất tranh chấp vẫn được kê khai chủ sử dụng đất là hộ ông L (chồng bà H). Mặt khác, cùng thời điểm năm 1999, gia đình ông H1 có nhận chuyển nhượng của gia đình bà H đất ở, có lập văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất và đã làm thủ tục sang tên chủ sử dụng đất nhưng đối với diện tích đất nông nghiệp tại ô 13, khoảnh 12, diện tích 1800m2 tại xử đồng Lò Ngói (theo hồ sơ dồn điền đổi thửa năm 2016), ông H1 và anh K cho rằng không yêu cầu làm thủ tục chuyển nhượng, không đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất là do tin tưởng bà H, ông L là không có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông H1 về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ruộng giữa bà H, ông L với ông H1 là đúng pháp luật.

[8] Theo bản đồ địa chính hiện nay, diện tích đất tranh chấp giữa bà H và ông H1 thuộc thửa ruộng số 74 tờ bản đồ số 164 ở xứ đồng Lò Ngói, xã V (nay là xã C) huyện L, tỉnh Bắc Giang (trước đây là ô 13, khoảnh 12, xứ đồng Lò Ngói mà hộ gia đình ông L được giao khi dồn điền, đổi thửa năm 2016. Ông H1, anh K không chứng minh được quyền sử dụng đất hợp pháp của thửa đất này nên Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà H, buộc ông H1 và vợ chồng anh K phải trả lại thửa đất tranh chấp là có căn cứ theo quy định tại Điều 100, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013 và Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[9] Theo biên bản bàn giao đất khi dồn điền đổi thửa, ô 13, khoảnh 12, xứ đồng Lò Ngói mà hộ gia đình ông L được giao có diện tích là 1800m². Theo kết quả đo vẽ hiện trạng sử dụng đất của Công ty TNHH một thành viên T9, gia đình ông H1, anh K đang sử dụng một phần thửa đất trên, có diện tích là 1446,7m²; phần còn lại là đường đi và hộ gia đình khác đang sử dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà chỉ buộc gia đình anh K trả lại 1446,7m² của ô 13, khoảnh 12, xứ đồng Lò Ngói (nay là thửa số 74 tờ bản đồ số 167 ở xứ đồng Lò Ngói, xã V (nay là xã C) huyện L, tỉnh Bắc Giang); đối với diện tích đất còn lại, bà không yêu cầu xem xét, giải quyết trong vụ án này. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà H là trong phạm vi khởi kiện ban đầu nên cần được xem xét, chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông H1, anh K và chị H4 phải trả lại cho bà H, ông L 1446,7m² tại thửa số 74 tờ bản đồ số 167 ở xứ đồng Lò Ngói, xã V (nay là xã C) huyện L, tỉnh Bắc Giang) (là hình 1-2-A-B-C-D-E-F-G-H-18-19-20-21-22 theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án).

[10] Đối với yêu cầu khởi kiện của bà H về việc buộc anh K, chị H4 khôi phục lại hiện trạng thửa đất số 74 tờ bản đồ số 167 ở xứ đồng Lò Ngói, xã V (nay là xã C) huyện L, tỉnh Bắc Giang: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H và anh K đều trình bày anh K đã tự khôi phục hiện trạng sử dụng đất, nay bà H xin rút yêu cầu này, rút toàn bộ kháng cáo; anh K và ông H1 nhất trí với việc rút yêu cầu này của bà H. Hội đồng xét xử phúc thẩm cần căn cứ Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy một phần bản án sơ thẩm và đỉnh chỉ giải quyết yêu cầu của bà H về việc buộc anh K, chị H4 khôi phục lại hiện trạng thửa đất tranh chấp.

[11] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã phân tích. Việc sửa bản án sơ thẩm do phát sinh tình tiết mới tại cấp phúc thẩm.

[12] Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Tổng chi phí xem xét thẩm định, định giá là 9.309.000 đồng. Trong vụ án này, bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện từ 1800m² xuống còn 1446,7m²; bà H tự nguyện chịu ½ chi phí xem xét thẩm định và định giá. Do đó, buộc bà H chịu ½ chi phí tố tụng và ông H1, anh K, chị H4 phải chịu ½ chi phí tố tụng là phù hợp với quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể là bà H phải chịu 4.654.500 đồng; ông H1 phải chịu 1.551.500 đồng; vợ chồng anh K và chị H4 phải liên đới chịu 3.103.000 đồng. Do bà H đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định, định giá nên cần buộc ông H1, anh K và chị H4 hoàn trả cho bà H số tiền trên.

[13] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông H1 và vợ chồng anh K, chị H4 phải trả bà H 1446,7m² đất nông nghiệp. Theo kết quả định giá, giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng 1m² đất nông nghiệp tại địa phương là 115.000 đồng/1m². Do vậy, giá trị quyền sử dụng phần diện tích đất tranh chấp là: 1446,7m² x 115.000 đồng = 166.370.500 đồng. Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Tổng số án phí dân sự sơ thẩm ông H1, anh K, chị H4 phải chịu là 8.318.525 đồng. Ông H1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Anh K và chị H4 phải liên đới chịu 2/3 số tiền án phí còn lại là 5.545.683 đồng.

[14] Về chi phí giám định chữ viết: Yêu cầu của bà H được chấp nhận, kết luận giám định xác định chữ viết, chữ ký cần giám định là do ông H1 viết ra. Hội đồng xét xử sơ thẩm buộc ông Hữu C2 chi phí giám định là phù hợp với Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[15]. Về án phí dân sự phúc thẩm: căn cứ vào Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H và ông H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[16]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H về việc buộc anh Nguyễn Văn K, chị Dương Thị H4 phải khôi phục lại hiện trạng thửa đất số 74, tờ bản đồ 167 ở xứ đồng Lò Ngói, xã V (nay là xã C) huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn H1, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 61/2024/DSST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân hyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

3. Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, Điều 166, Điều 170, Điều 188, Điều 202, Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 3 và khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 161 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

3.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị H. Buộc ông Nguyễn Văn H1, anh Nguyễn Văn K, chị Hương Thị H9 phải trả bà Vũ Thị H, ông Nguyễn Văn L 1446,7m² đất tại thửa đất số 74, tờ bản đồ 167 ở xứ đồng Lò Ngói, xã V (nay là xã C) huyện L, tỉnh Bắc Giang (là hình 1-2-A-B-C-D-E-G-H-18-19-20-21-22) theo sơ đồ kèm theo bản án.

3.2. Về chi phí xem xét thẩm định và định giá:

Buộc ông Nguyễn Văn H1 phải hoàn trả bà Vũ Thị H 3.103.000 đồng (Ba triệu một trăm linh ba nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản. Buộc anh Nguyễn Văn K và chị Dương Thị H4 có nghĩa vụ liên đới hoàn trả bà Vũ Thị H số tiền 6.206.000 đồng (Sáu triệu hai trăm linh sáu nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

3.3. Về chi phí giám định:

Ông Nguyễn Văn H1 phải chịu 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng) chi phí giám định. Xác nhận ông H1 đã nộp đủ chi phí giám định.

3.4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Văn H1. Buộc anh Nguyễn Văn K và chị Dương Thị H4 phải liên đới chịu 5.545.683 đồng (Năm triệu năm trăm bốn mươi lăm nghìn, sáu trăm tám mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Vũ Thị H và ông Nguyễn Văn H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND, VKSND huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VPHCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/DS-PT ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 45/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger