|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày: 07-3-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Loan - Giáo viên
Ông Nguyễn Tiến Dũng - Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Kiên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Hoàng Tiến Nam - Kiểm sát viên
Vào ngày 07 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Minh H, sinh ngày 21/10/2006; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số nhà G P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Số nhà A M, phường M, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 08/12; con ông Phạm Văn T (đã chết) và bà Trần Thị H1, sinh năm 1973; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vũ Hải Đ, sinh ngày 18/5/2006; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số nhà A T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; chỗ ở hiện nay: Số nhà A Ô, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Vũ Ngọc Q, sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Bích L (đã chết); tiền án: Ngày 28/7/2023, Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, 1
thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng về tội Cướp tài sản; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trần Tiến Đ1, sinh ngày 15/12/2007; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà I P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Văn N, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1973; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/6/2023 bị Công an thành phố N ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Trần Đức P1, sinh ngày 06/02/2007; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số nhà A H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Số nhà A H, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Trần Văn T1 (đã chết) và bà Đặng Thị Vân A, sinh năm 1984; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Đỗ Hoàng A1, sinh ngày 13/8/2006; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số nhà B H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Sân bóng phường L, đường P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Vũ Duy H2, sinh năm 1988 và bà Đỗ Thị Thu H3, sinh năm 1985; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Hà Gia B, sinh ngày 21/11/2006; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú: Số nhà C P, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Số nhà B P, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Hà Trung T2, sinh năm 1983 và bà Trần Thị Thu H4, sinh năm 1982; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
7. Họ và tên: Trần Quang H5, sinh năm 2003; giới tính: Nam căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà A H, 2
phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông Trần Văn T3, sinh năm 1974 và con bà Hoàng Thị Lan A2, sinh năm 1979; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2024, đến ngày 03/01/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.
8. Họ và tên: Trần Viết P, sinh ngày 24/6/2007; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà B N, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông Trần Viết D, sinh năm 1975 và bà Phạm Thị H6, sinh năm 1978; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2024, đến ngày 03/01/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; có mặt tại phiên tòa.
9. Họ và tên: Đỗ Việt H7, sinh ngày 11/8/2007; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà H đường P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12, hiện đang học tại Trường THPT N6, thành phố N; con ông Đỗ Văn Đ2, sinh năm 1974 và bà Trần Thị Hồng N1, sinh năm 1979; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
10. Họ và tên: Ngô Quang B1, sinh ngày 11/10/2007; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Ngô Văn V1, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1978; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/12/2024; có mặt tại phiên tòa.
11. Họ và tên: Nguyễn Văn H8, sinh ngày 24/01/2008; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; hiện đang học tại Trường THPT N6, thành phố N; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1979 và bà Đặng Thị L1, sinh năm 1982; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
12. Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh ngày 11/01/2008; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã M, thành phố N tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 10/12; con ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1981 và bà Trần Thị T5, sinh năm 1984; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa. 3
13. Họ và tên: Vũ Hoàng L2, sinh năm 2002; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi ở: Thôn N, xã C, thành phố H (huyện C cũ), tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông Vũ Hoàng G, sinh năm 1975 và bà Trần Thị H9, sinh năm 1975; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
14. Họ và tên: Hoàng Minh Đ3, sinh ngày 15/03/2008; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà B đường T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 10/12; con ông Hoàng Văn V2, sinh năm 1985 và bà Bùi Thị H10, sinh năm 1985; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
15. Họ và tên: Đặng Hoàng D1, sinh ngày 04/06/2008; giới tính: Nam; căn cước công dân số: [...]; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố số A P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: số F Đ, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông Đặng Hồng D2 (đã chết) và bà Hoàng Thị H11, sinh năm 1973; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/12/2024, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của các bị cáo:
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Tiến Đ1: Ông Trần Văn N (bố đẻ bị cáo), sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ bị cáo), sinh năm 1973; cùng nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà I đường P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Viết P: Ông Trần Viết D (bố đẻ bị cáo), sinh năm 1975 và bà Phạm Thị H6 (mẹ đẻ bị cáo), sinh năm 1978; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà B N, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đỗ Việt H7: Ông Đỗ Văn Đ2, sinh năm 1974 (bố đẻ bị cáo) và bà Trần Thị Hồng N1 (mẹ đẻ bị cáo), sinh năm 1979; cùng nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà H đường P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Ngô Quang B1: Ông Ngô Văn V1 (bố đẻ bị cáo), sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị L (mẹ đẻ bị cáo), sinh năm 1978; cùng nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa. 4
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn H8: Ông Nguyễn Văn K (bố đẻ bị cáo), sinh năm 1979 và bà Đặng Thị L1, sinh năm 1982 (mẹ đẻ bị cáo); cùng nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Nguyễn Văn S: Bà Trần Thị T5 (mẹ đẻ bị cáo), sinh năm 1984; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã M, thành phố N tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Hoàng Minh Đ3: Ông Hoàng Văn V2 (bố đẻ bị cáo), sinh năm 1985 và bà Bùi Thị H10 (mẹ đẻ bị cáo), sinh năm 1985; cùng nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà B T, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đặng Hoàng D1: Bà Hoàng Thị H11, sinh năm 1973; nơi thường trú: Tổ dân phố số A P, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định; chỗ ở hiện nay: Số F Đ, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa:
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh H và bị cáo Ngô Quang B1: Bà Trần Thị N2 - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý - Sở tư pháp tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho các bị cáo); có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Viết P và bị cáo Hoàng Minh Đ3: Bà Trần Thị T6 - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý - Sở tư pháp tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho các bị cáo); có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức P1 và bị cáo Nguyễn Văn S: Bà Trần Thị N3 - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý - Sở tư pháp tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho các bị cáo); có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Tiến Đ1: Bà Đặng Thị Anh T7 - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý - Sở tư pháp tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho bị cáo); có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Việt H7 và bị cáo Đặng Hoàng D1: Bà Bùi Tố Q1 - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý - Sở tư pháp tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho các bị cáo); có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H8: Bà Đinh Thị Thanh T8 - Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý - Sở tư pháp tỉnh Nam Định cử để bào chữa cho bị cáo); có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: 5
Rạng sáng ngày 11/8/2024, Đỗ Việt H7, Vũ Hải Đ, Nguyễn Bảo Đ4 đi chơi tại khu vực sân vận động T16, phường V, thành phố N thì bị Trần Quang H5, Vũ Hoàng L2, Trần Đức P1 dùng tay, chân đánh. Đỗ Việt H7, Vũ Hải Đ kể lại việc bị đánh cho Trần Tiến Đ1, Phạm Minh H, Trần Viết P và thống nhất sẽ tìm P1, H5, L2 để trả thù. Sau đó, H gọi điện cho Trần Viết T9 sinh ngày 28/10/2009, trú tại thôn C, xã M, thành phố N đến, mang theo 01 dao bằng kim loại tự chế (dạng dao mèo) cán bằng gỗ màu đen dài khoảng 30 cm, phần lưỡi bị gỉ sét. P lấy 01 dao bằng kim loại cán bằng gỗ màu đen dài khoảng 20 cm, phần lưỡi sáng màu (dạng để ở nhà Đ1). T9 và H đi mua thêm 01 dao bằng kim loại cán gỗ dài khoảng 01 m rồi đem đến nhà Đ1 để. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ gọi điện qua ứng dụng Messenge cho L3 (chưa xác định được tên, địa chỉ) hỏi mượn hung khí, L3 đồng ý rồi đi xe mô tô nhãn hiệu Liberty (chưa xác định được biển kiểm soát) đến nhà Đ1 đưa cho Đ mượn 01 dao bằng kim loại tự chế dài khoảng 50 cm, phần lưỡi dao dài khoảng 35 cm, cán dao bằng kim loại màu bạc. Sáng ngày 12/8/2024, H7 rủ Nguyễn Văn H8 tham gia với nhóm của H7 đi tìm nhóm của P1, H8 đồng ý. Sau đó, H8 rủ thêm Nguyễn Văn S đi cùng.
Sau khi chuẩn bị hung khí, H7, Đ, H, P, Đ1, H8, S hẹn P1 tối ra khu vực hồ D, phường L, thành phố N để đánh nhau, P1 đồng ý. Tuy nhiên, khi P1 nói lại cho H5 thì H5 nói “Đừng ra đấy không chúng nó đánh cho đấy, hẹn bọn nó về Hoàng Văn T10 đi”. P1 gọi điện thoại cho H7 hẹn tối đến A H, phường T, thành phố N để đánh nhau, H7 đồng ý.
Sau đó, P1 rủ Đặng Hoàng D1, Hà Gia B, Vũ Thành Đ5 sinh ngày 24/9/2008; H5 rủ Vũ Hoàng L2, Phạm Nguyễn Tuấn A3 sinh ngày 11/11/2008, trú tại E2P3 tập thể V, phường T, thành phố N, Hoàng Công Đ6 sinh ngày 17/11/2008, Nguyễn Anh V3 sinh ngày 18/5/2009, Đỗ Minh Đ7, sinh ngày 01/9/2009 và Trần Ngọc B2, sinh ngày 08/4/2009. Phạm Nguyễn Tuấn A3 mượn của Trần Quang T11, sinh ngày 06/6/2007, 01 kiếm ống bằng kim loại dài khoảng 20 cm, vỏ kiếm bằng thép dài 55 cm, loại lưỡi kiếm di động được gắn vào vỏ kiếm, P1 chuẩn bị thêm được 01 dao bằng kim loại tự chế dài khoảng 65 cm, phần lưỡi dao dài khoảng 50 cm, cán bằng gỗ bọc băng dính đen dài khoảng 15 cm.
Tối ngày 12/8/2024, H7 đi xe mô tô Liberty của L3 đến và rủ Đỗ Hoàng A1 đến nhà Đ7; H8 đến nhà S lấy thêm 01 (một) dao bằng kim loại tự chế (dạng dao mèo) dài khoảng 01 m rồi S chở H8 bằng xe mô tô Honda nhãn hiệu Airblade màu đen vàng, biển kiểm soát 18MA-011.64; P điều khiển xe mô tô Honda nhãn hiệu Airblade màu đen vàng, biển kiểm soát 18MA-011.09 đến nhà Đ7; T9 đi bộ đến nhà Đ7 rồi cùng nhau chia số hung khí cho từng người: H cầm 01 dao mèo, T9 cầm 01 dao mèo, P cầm 01 dao tự chế, Đ cầm 01 dao tự chế, Đ7 cầm 01 dao tự chế.
Về phía nhóm của P1, cùng trong khoảng thời gian tối ngày 12/8/2024, D1 đi xe mô tô Honda nhãn hiệu Airblade màu xám (chưa xác định được biển kiểm soát) đến nhà P1 và mang theo 01 dao kim loại tự chế, dạng dao mèo dài khoảng 50 cm, phần cán bọc cao su màu đen dài khoảng 10 cm đựng trong túi đựng giày bi-a; L2 đi 6
xe mô tô Honda nhãn hiệu Airblade màu đỏ, biển kiểm soát 18H1-815.72 chở H5 và Đ6 cầm theo 01 dao tự bằng kim loại tự chế dài khoảng 65 cm, phần lưỡi sơn màu đỏ dài khoảng 50 cm, cán bằng gỗ bọc băng dính đen dài khoảng 15 cm. Sau đó, D1 chở P1, V3 (V3 cầm theo 01 dao bằng kim loại tự chế cán màu đen dài khoảng 20 cm); L2 chở H5, Đ6 đi uống nước tại khu vực đê T, phường V, thành phố N. Khi đang uống nước thì Phạm Nguyễn Tuấn A3 đi xe mô tô Honda nhãn hiệu Wave màu xanh, biển kiểm soát 18B3-029.79 chở Bùi Thị Thu T12 sinh năm 2005, Đ6 đi xe máy điện nhãn hiệu HTC màu vàng đen, biển kiểm soát 18MĐ1-244.61 đến và cùng vào ngồi uống nước. Sau đó, P1, H5, L2, Đ6, Gia B, V3, Minh Đ7, Ngọc B2 quay về ngõ A H, P1 lấy thêm 01 thanh kim loại sáng màu, hình trụ (dạng tuýp) dài khoảng 70 cm rồi giấu toàn bộ số hung khí đã chuẩn bị vào sau cửa ngõ. Sau đó P1 gọi video qua ứng dụng Messenge cho H7 hẹn đến 184 Hoàng Văn T10 để đánh nhau, H7 đồng ý.
Sau khi nghe điện thoại của P1, nhóm của H7 di chuyển bằng xe mô tô từ nhà Đ7 gồm: Hoàng A1 chở P, H; S chở H8, Đ7; H7 chở Đ, T9, từng người cầm theo hung khí đã chuẩn bị sẵn và bàn với nhau Hoàng A1 và S sẽ đi đến ngõ A H để khiêu khích dụ nhóm của P1 đuổi theo ra khu vực Bệnh viện 700 giường, phường L, thành phố N để H7, Đ, T9 đã phục sẵn ở đó để đánh. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, 02 xe mô tô gồm Hoàng A1 chở P, H; S chở H8, Đ7 đi đến ngõ A H thì gặp nhóm của P1. H, P, Đ7 xuống xe cầm dao đi đến, lập tức P1, H5, L2, Công Đ6, B2, Thành Đ5 chạy vào trong ngõ lấy hung khí để quay ra đánh nhau. H nhìn thấy D1, V3, Đỗ Minh Đ7, Ngọc B2 đang đứng trên vỉa hè trước cửa số nhà 188 Hoàng Văn T10 liền nói “Thằng nào hẹn đánh nhau ra đây gặp tao”, đồng thời giơ dao lên doạ chém D1 thì D1 nói “Không phải em”. Lúc này, H5 cầm 01 kiếm ống tuýp bằng kim loại, Công Đ6 cầm dao tự chế, Gia B cầm 02 viên gạch màu đỏ (loại gạch xây dựng), H5 hô “Chém chết mẹ chúng nó đi”, rồi H5, P1, Công Đ6, Gia B, L2 chạy ra lòng đường đuổi đánh H, P, Đ7. Thấy đông người, H, P, Đ7 lên xe mô tô bỏ chạy. H5, P1, Công Đ6, Gia B chạy bộ đuổi theo, vừa đuổi P1 vừa chửi. Đuổi bộ được khoảng 20m đến khu vực quán C1 thì L2 hô “Lấy xe máy đuổi theo”. L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Ariblade màu đỏ chở H5, Công Đ6, Gia B cầm theo dao; Thành Đ5 điều khiển xe máy điện chở P1 cầm dao, D1 điều khiển xe máy điện một mình, V3 điều khiển xe máy điện nhãn hiệu JVCECO màu đen, biển kiểm soát 90MĐ1-217.16 đuổi theo 02 xe mô tô của H, P, Đ7. Khi thấy nhóm V3 đuổi đánh nhóm H thì Đỗ Minh Đ7 điều khiển xe máy điện chở Ngọc B2 đi theo để xem sự việc. Tuấn A3, T12 dừng lại tại vỉa hè đối diện ngõ A H. Xe mô tô do L2 điều khiển chở H5, Công Đ6, Gia B đuổi theo 02 xe mô tô nhóm của H theo tuyến đường H đến phố H quay ra đường T đến khu vực chợ R đi theo tuyến đường T hướng về cầu Đ nhưng không thấy nhóm H nên đã chở Công Đ6 về nhà. Còn Thành Đ5, P1, D1 đuổi theo ra đến khu vực chợ R thì không thấy xe L2 và nhóm của H nên tiếp tục đi tìm theo tuyến đường T đến đường L rồi đi ra khu vực hồ V. V3 và Minh Đ7 chở Bảo N4 đi theo phía sau một lúc rồi quay về nhà. 7
Về phía nhóm của H khi bị nhóm của P1 đuổi đánh nên đã bỏ chạy theo tuyến đường Hoàng Văn T10 lên đường Hưng Yên rồi đến đường T. Trên đường đi H gọi điện thoại rủ Phan Minh C sinh năm 2006, trú tại thôn L, xã M, thành phố N đi xem đánh nhau và hẹn gặp ở khu vực hồ Đ, phường L, C đồng ý. Sau đó, nhóm của H đi đến khu vực hồ đầm B3 thì gặp C và các bạn của C là Hoàng Minh Đ3, Nguyễn Huy N5, sinh ngày 29/01/2007; Nguyễn Đức T13, sinh năm 2005; Bùi Xuân T14, sinh năm 2005; Đặng Tú U, sinh năm 2006, Thảo M (chưa xác định được lý lịch). Sau đó, C rủ Hoàng Minh Đ3, Nguyễn Huy N5, Nguyễn Đức T13, Bùi Xuân T14, Đặng Tú U, Thảo M đi xem nhóm của H đánh nhau. Khi thấy Hoàng Minh Đ3 đi xe mô tô Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát 18AA-189.64 một mình nên Tiến Đ1 nhờ Hoàng Minh Đ3 chở. Hoàng A1 chở P, H; S chở H8; Hoàng Minh Đ3 chở Tiến Đ1; C chở Thảo M; T14 chở T13; N5 chở U. Trước khi đi, C bảo với T14, T13, N5 “Tí có đánh nhau thì đứng ngoài xem thôi”. Sau đó, nhóm của H đi theo tuyến đường từ hồ Đ ra đường T, lên đường H rồi ra đường H. Khi cả nhóm đi đến khu vực ngõ A H thì không thấy nhóm của P1 nên cả nhóm di chuyển đến trước cổng Bệnh viện V4 ở phố H, phường T rồi di chuyển dọc theo tuyến đường T đến ngã tư đường H với đường B rồi sang khu vực ngõ A H ra phố L, mục đích để tìm đánh nhóm của P1. Khi đi đến khu vực ngã tư đường H và phố B, nhóm của H gặp 02 nam thanh niên (chưa xác định được lý lịch) đang ngồi chơi trên vỉa hè, H dừng xe lại, T9 xuống xe, dùng dao doạ đánh thì 02 thành niên này nói “Không phải em, các anh bắt nhầm người rồi”. Khi biết 02 người này không phải nhóm của P1 nên nhóm của H lên xe, tiếp tục di chuyển qua nhiều tuyến phố để tìm đánh nhóm P1. Khi phát hiện thấy nhóm của H nhiều lần đi qua ngõ A H, thì Phạm Nguyễn Tuấn A3 gọi điện thoại thông báo thông báo cho H5. Sau đó, H5, L2, Gia B quay về ngõ A H. Trên đường đi, H5 gọi điện thoại cho P1 báo “Mày về đây đi không chúng nó chém đấy, chúng nó đi qua mấy lần rồi”. P1, Thành Đ5, D1 quay về ngõ A H gặp H5, L2, G. Sau đó, Gia B gọi điện thoại cho Ngô Quang B1 thông tin đến sự việc nhóm H đang tìm đánh nhóm của Gia B. Quang Bảo đến 184 Hoàng Văn T10 và cầm 01 thanh kim loại dạng tuýp (của Tuấn A3) để ở gốc cây trước ngõ A H giắt vào hông bên phải xe mô tô của mình, mục đích để làm hung khí đánh nhóm của H. Do có quen với C nên Gia B lấy xe máy của L2 đi tìm C nói chuyện. Khi ra đến khu vực ngã ba đường L và đường N thì gặp nhóm của H đi ngược chiều nên Gia B quay xe lại, thấy vậy, H giơ dao về phía Gia B nói “Mày có phải nhóm kia không” thì C hô lên “Bạn tôi đấy” nên nhóm của H không đánh Gia B và tiếp tục đi từ đường L hướng về đường H, C và Gia B điều khiển xe máy đi phía sau. Lúc này, Quang B1 điều khiển xe máy đến trước ngõ A H còn P1, H5, L2, Thành Đ5, D1 vẫn đứng tụ tập ở đầu ngõ A H. Khoảng 23 giờ 17 phút cùng ngày, nhóm của H đi từ hướng ngã tư đường L tới, thấy nhóm H đông người, cầm theo dao, kiếm nên P1, H5, L2, Thành Đ5 bỏ chạy vào trong ngõ. Khi nhìn thấy Quang B1 đang ngồi trên xe máy trước ngõ A H, 04 xe máy nhóm H tăng ga, hò hét ầm ĩ. Hoàng A1 điều khiển xe máy áp sát, dùng chân trái đạp đổ xe máy của Quang B1 rồi vượt qua dừng xe giữa lòng đường Hoàng Văn T10; H7 dừng xe lại ở phía trước đầu xe 8
Quang Bảo; S và Minh Đ3 điều khiển xe vượt qua và dừng giữa lòng đường. Quang Bảo rút thanh tuýp ở hông xe ra cầm trên tay phải chạy ra giữa lòng đường đuổi đánh lại nhóm H. Đ xuống xe cầm dao trên tay phải chém 2-3 nhát về phía Quang Bảo thì Quang B1 vung thanh tuýp vụt lại về phía Đ làm dao của Đăng trượt xuống trúng vùng cổ chân trái của Quang B1 gây thương tích. Đ bỏ chạy về phía trước cửa số nhà A H thì P, H, T9, Đ3 cầm dao cùng Hoàng A1 xuống xe đuổi đến chỗ Quang B1. T9 tay phải cầm dao chém về phía Quang B1 nhưng không trúng làm dao tuột khỏi tay rơi xuống đường; P vung dao chém về phía Quang Bảo nhưng không trúng rồi nhặt thêm con dao của T9 lên cầm ở tay trái; H vung dao chém 04 nhát trúng vùng bắp tay phải của Quang B1. Quang Bảo bỏ chạy thì H tiếp tục đuổi theo, Quang B1 vừa chạy vừa quay lại vụt thanh tuýp về phía H thì bị H chém 01 nhát trúng vùng cổ bên phải và 01 nhát trúng vùng lưng bên trái. P, Đ3, Đ cầm dao cùng Hoàng A1, T9 đuổi phía sau. Sau đó nhóm H đuổi theo Quang B1 tiếp tục dùng dao chém 02 nhát về phía Quang Bảo. Nhóm H đứng chửi một lúc rồi lên xe bỏ đi. Khi nhóm H, Đ3, Hoàng A1, P, Đ, T9 đánh nhau với Quang B1 thì S đứng cạnh xe máy Airblade cầm điện thoại chụp ảnh lại sự việc; còn H8, H7, Minh Đ3 ngồi trên các xe mô tô đứng trước số nhà A H quan sát và chờ sẵn để bỏ chạy.
Do Ngô Quang B1 bị chém gây thương tích chảy nhiều máu nên Phạm Nguyễn Tuấn A3 đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh N để cấp cứu sau đó chuyển lên Bệnh viện Việt Đức thành phố H để điều trị. Hậu quả: Ngô Quang B1 bị 01 vết thương vùng cổ phải sát góc hàm kích thước (6x3) cm, 01 vết thương thắt lưng trái, kích thước (4x2) cm; 01 vết thương mặt trước cánh tay phải kích thước (3x4) cm; 01 vết thương cổ chân trái, kích thước (3x4) cm.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N phối hợp cùng các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ:
- - 01 thanh kim loại sáng màu, hình trụ, đường kính 02 cm, dài khoảng 70 cm;
- - 01 con dao tự chế dài khoảng 65 cm, lưỡi dao bằng kim loại được sơn màu đỏ dài khoảng 50 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 15 cm.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen-vàng, biển kiểm soát 18MA-011.64 thu giữ của Nguyễn Văn S.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen-vàng, biển kiểm soát 18MA-011.09, thu giữ của Trần Viết P.
- - 01 xe máy điện nhãn hiệu Dibao GOGO S4, màu xanh xám, biển kiểm soát 18AA-138.51 thu giữ của Đặng Hoàng D1.
- - 01 xe máy điện nhãn hiệu JVCECO màu đen, biển kiểm soát 90MĐ1 - 217.16 thu giữ của Nguyễn Anh V3.
- - 01 xe máy điện nhãn hiệu HTC màu đen, biển kiểm soát 18MĐ1-244.61, thu giữ của Vũ Thành Đ5.
Ngày 14/8/2024, bà Nguyễn Thị Vân H12, sinh năm 1960 là tổ trưởng tổ dân phố số A phường N, thành phố N; chị Trần Thị H13, sinh năm 1990, trú tại số nhà A H; chị Tạ Thu H14, sinh năm 1991, trú tại số nhà A H là những người đại diện cho nhân dân khu vực nơi các đối tượng đánh nhau có đơn đề nghị Cơ quan điều tra xử lý nghiêm nhóm đối tượng đã có hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm đuổi đánh nhau dọc theo tuyến đường H, hò hét ầm ĩ gây náo loạn khu phố, làm cho những người dân sinh sống trong khu vực hoang mang, bức xúc, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự khu dân cư.
Ngày 04/9/2024, UBND phường T, thành phố N có Công văn số 1286 đề nghị Công an thành phố N xác minh, xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 135/24/TgT ngày 16/9/2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y Sở y tế tỉnh N kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Ngô Quang B1 hiện tại là 09% (chín phần trăm); cơ chế hình thành vết thương do vật cứng có cạnh sắc tác động gây nên.
Ngày 10/10/2024, Ngô Quang B1 đã có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự, không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những đối tượng đã gây thương tích cho mình và không đề nghị bồi thường dân sự.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ 03 đoạn video ghi lại diễn biến vụ việc được sao trích từ camera an ninh gia đình tại số nhà A và số nhà A đường H, phường T, thành phố N. Tại bản kết luận giám định số 1973/KL-KTHS ngày 16/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.
Tại Cơ quan điều tra, các bị can Vũ Hải Đ, Phạm Minh H, Nguyễn Văn H8, Đỗ Việt H7, Nguyễn Văn S, Trần Viết P, Đỗ Hoàng A1, Trần Tiến Đ1, Trần Đức P1, Trần Quang H5, Vũ Hoàng L2, Hà Gia B, Ngô Quang B1, Đặng Hoàng D1, Hoàng Minh Đ3 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và đồng phạm.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh, truy tìm những tài sản, đồ vật có liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ, biển kiểm soát 18H1-815.72; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu xanh, biển kiểm soát 18AA.189.64; 01 xe mô tô nhãn hiệu Liberty màu đồng (chưa xác định biển kiểm soát); 01 dao (dạng dao thừa) dài khoảng 30 cm, lưỡi dao bằng kim loại gỉ sét, cán dao bằng gỗ màu đen; 01 dao bằng kim loại dài khoảng 20 cm, lưỡi dao bằng kim loại sáng màu, cán dao bằng gỗ màu đen; 01 dao (dạng dao tự chế) bằng kim loại màu bạc dài khoảng 50 cm, lưỡi dao màu bạc dài khoảng 35 cm một cạnh sắc, cán dao bằng kim loại màu bạc, có bao đựng bằng kim loại màu bạc; 01 dao (dạng dao mèo) dài khoảng 30 cm, lưỡi dao bằng kim loại, một cạnh sắc, lưỡi dao cong, đầu dao nhọn, cán bằng nhựa màu đen; 01 dao bằng kim loại dài khoảng 01 cm, lưỡi dao sáng màu, cán bằng gỗ màu 10
đen, có bao đựng bằng gỗ sét màu đen; 01 dao (dạng dao mèo) dài khoảng 50 cm, lưỡi dao bằng kim loại bị gỉ sét, cán dao bọc cao su màu đen dài khoảng 10 cm; 01 kiếm (dạng ống) có vỏ kiếm bằng sắt hình trụ, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu dài khoảng 20 cm, mũi kiếm nhọn, vỏ kiếm màu đen dài khoảng 55 cm; 02 viên gạch màu đỏ (loại gạch xây dựng); 01 điện thoại di động nhưng đến nay chưa thu giữ được.
Bản cáo trạng số 46/CT-VKS-TPNĐ ngày 06-02-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Đỗ Việt H7, Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Tiến Đ1, Trần Viết P, Đỗ Hoàng A1, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H8, Hoàng Minh Đ3, Trần Quang H5, Trần Đức P1, Vũ Hoàng L2, Hà Gia B, Đặng Hoàng D1, Ngô Quang B1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Viết P, Trần Tiến Đ1, Đỗ Việt H7, Trần Đức P1, Trần Quang H5, Ngô Quang B1, Hà Gia B, Đỗ Hoàng A1, Vũ Hoàng L2, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3, Đặng Hoàng D1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng chính sách có lợi cho người chưa thành niên theo quy định của Bộ luật Hình sự và Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024.
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Phạm Minh H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Hải Đ từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 151/2023/HSST ngày 28-7-2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ1 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Trần Đức P1 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng A1 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù.
Xử phạt bị cáo Hà Gia B từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù. 11
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Quang H5 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm (Năm năm).
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Viết P từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm).
Xử phạt bị cáo Đỗ Việt H7 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm).
Xử phạt bị cáo Ngô Quang B1 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H8 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm).
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã (phường) nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng L2 từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng đến 05 năm.
Trả tự do cho bị cáo Vũ Hoàng L2 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Vũ Hoàng L2 cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ3 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
Trả tự do cho bị cáo Hoàng Minh Đ3 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Hoàng Minh Đ3 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án. 12
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng D1 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận, ăn ăn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo Vũ Hoàng L2, bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Nguyễn Văn H8 nộp chứng cứ chứng minh người thân của các bị cáo là người có công với cách mạng. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xử cho các bị cáo mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa:
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh H và bị cáo Ngô Quang B1: Đề nghị áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, và đây là lần đầu phạm tội. Các bị cáo đã nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đồng thời thể hiện thái độ thành khẩn khai báo. Các bị cáo đều có đơn xác nhận của Ủy ban nhân dân có thẩm quyền về hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Minh H để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị mức thấp hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát; áp dụng khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, cùng với các Điều 65 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Quang B1 đề nghị mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát và cho phép bị cáo tự cải tạo tại địa phương.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Viết P và Hoàng Minh Đ3: Xét về độ tuổi và khả năng nhận thức: Bị cáo Hoàng Minh Đ3 mới qua tuổi 16, Trần Viết P vừa qua tuổi 17; cả hai bị cáo đều ở độ tuổi mới lớn, nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo P và Đ3 bị rủ rê, lôi kéo, hành vi phạm tội mang tính bồng bột, nhất thời. Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng. Cả hai có khả năng tự cải tạo tại địa phương. Đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 58, Điều 101 Bộ luật Hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo Trần Viết P và Hoàng Minh Đ3 được hưởng án treo với mức án thấp nhất. Bị cáo Hoàng Minh Đ3 hiện đang bị tạm giam, đề nghị Hội đồng xét xử trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức P1 và Nguyễn Văn S: Đề nghị áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội dưới 18 tuổi. Cả hai bị cáo đều sinh ra trong gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nơi cư trú rõ ràng và đã nhận thức 13
được hành vi vi phạm pháp luật của mình, đồng thời bày tỏ sự ăn năn, hối hận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Đức P1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình; áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn S đề nghị cải tạo tại địa phương.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Tiến Đ1: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt của Viện Kiểm sát. Đây là trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc hay thống nhất, hành vi mang tính bộc phát, nhận thức pháp luật hạn chế nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, và Điều 101 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức án 01 năm 06 tháng tù.
Người bào chữa cho bị cáo Đỗ Việt H7 và bị cáo Đặng Hoàng D1: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt của Viện Kiểm sát. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo H7 và D1 đều chưa đủ 18 tuổi, đây là trường hợp đồng phạm giản đơn, phát sinh từ mâu thuẫn cá nhân, không có kế hoạch bàn bạc hay phân công nhiệm vụ trước đó. Đôi với bị cáo D1, mặc dù phạm tội nghiêm trọng nhưng chỉ đóng vai trò thứ yếu. Cả hai bị cáo đều sinh ra trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu sự quan tâm của gia đình. D1 mất cha, mẹ phải đi làm để nuôi bị cáo. Cả hai đều đang đi học nên đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, Điều 58, Điều 65 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H7, cho bị cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của VKS là 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 91, Điều 58, Điều 65 và Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D1 cho bị cáo mức án dưới đề nghị của Viện kiểm sát, cho bị cáo hưởng án treo và trả tự do bị cáo tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn H8: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt của Viện Kiểm sát. Hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Tuy nhiên, bị cáo đã thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn, hối cải. Bị cáo đóng vai trò thứ yếu trong vụ án, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đang là học sinh cấp 3, nhận thức của bị cáo còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn. Bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và chưa có tiền án, tiền sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc hình phạt phù hợp với người chưa thành niên phạm tội. Áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, Điều 65 và Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất và cải tạo tại địa phương.
Tại phiên tòa, người đại diện theo pháp luật của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như những người bào chữa đã trình bày và xử các bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của Kiểm sát viên. 14
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm trình bày tại bản luận tội.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử các bị cáo mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa, đại diện theo pháp luật của các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Lời khai của những người làm chứng; sơ đồ hiện trường; biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng; biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; kết luận giám định; biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ 30 phút đến 23 giờ 17 phút ngày 12/8/2024, từ đoạn đường trước khu vực ngõ S H đến các tuyến đường B, đường T, phường T, thành phố N, nhóm Đỗ Việt H7, Vũ Hải Đ, Phạm Minh H, Trần Viết P, Trần Tiến Đ1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Đỗ Hoàng A1 và Hoàng Minh Đ3 đã điều khiển xe mô tô, xe máy điện, sử dụng hung khí nguy hiểm gồm dao, kiếm tìm kiếm nhóm Trần Đức P1, Trần Quang H5, Vũ Hoàng L2, Đặng Hoàng D1, Hà Gia B và Ngô Quang B1 và hai nhóm đuổi đánh chém nhau dọc theo tuyến đường H, hò hét ầm ĩ gây náo loạn khu phố, làm cho những người dân sinh sống trong khu vực hoang mang, bức xúc và Ngô Quang B1 bị chém gây thương tích tổn hại 9% sức khoẻ.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi dùng hung khí đuổi nhau, hò hét, đánh chém nhau của các bị cáo làm gây mất trật tự công cộng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, các bị cáo Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Tiến Đ1, Trần Viết P, Trần Đức P1, Trần Quang H5, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Hà Gia B, Đỗ Hoàng A1, Vũ Hoàng L2, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3, Đặng Hoàng D1 đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”, thuộc trường hợp định khung tăng nặng "Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách", tội phạm và 15
hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về vai trò của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đe dọa, phá vỡ trật tự kỷ cương xã hội làm hoang mang, lo sợ, bất bình trong nhân dân. Hiện nay tội gây rối trật tự công công đang bị dư luận xã hội lên án vì hành vi gây rối trật tự công cộng có thể gây ra những hậu quả thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, thiệt hại đến tài sản của nhân dân. Việc đưa các bị cáo ra xét xử và có mức án tương xứng với hành vi của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và góp phần đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội.
Các bị cáo Vũ Hải Đ, Phạm Minh H, Trần Tiến Đ1, Đỗ Hoàng A1, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3 cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên nhóm các bị cáo này là đồng phạm của nhau.
Các bị cáo Trần Đức P1, Hà Gia B, Trần Quang H5, Ngô Quang B1, Vũ Hoàng L2, Đặng Hoàng D1 cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên nhóm các bị cáo này là đồng phạm của nhau.
- Đối với nhóm Vũ Hải Đ, Phạm Minh H, Trần Tiến Đ1, Đỗ Hoàng A1, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3:
Các bị cáo Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Tiến Đ1, Trần Viết P trực tiếp cầm hung khí đi trên nhiều tuyến đường tìm kiếm nhóm Trần Đức P1 để đánh nhau; rượt đuổi, hò hét, dừng xe dàn hàng ngang giữa lòng đường Hoàng Văn T10 và trực tiếp sử dụng hung khí chém Ngô Quang B1 thương tích 9%, nhưng các bị cáo Vũ Hải Đ, Phạm Minh H, Trần Tiến Đ1 có vai trò tích cực hơn Trần Viết P; bị cáo Đỗ Hoàng A1 là người điều khiển xe và là người đầu tiên trực tiếp đạp đổ xe Ngô Quang B1 dẫn đến việc Ngô Quang B1 rút tuýp nước đánh nhóm Phạm Minh H và bị cáo Đỗ Hoàng A1 cũng tham gia rượt đuổi Ngô Quang B1 nên Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Tiến Đ1, Đỗ Hoàng A1, Trần Viết P lần lượt có vai trò đầu trong nhóm.
Bị cáo Đỗ Việt H7 là người rủ rê các bị cáo khác chuẩn bị hung khí, hẹn nhau địa điểm tụ tập, tìm đánh nhau với nhóm Trần Đức P1 nhưng nguyên nhân chính là do nhóm của Trần Đức P1 gây sự, đánh bị cáo từ ngày hôm trước. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do suy nghĩ còn nông nổi, mục đích nhằm trả thù. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không trực tiếp cầm dao, không tham gia vào quá trình rượt đuổi chém Ngô Quang B1 mà ngồi trên xe mô tô quan sát và chờ sẵn để bỏ chạy nên có vai trò tiếp theo. 16
Các bị cáo Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3 tham gia với vai trò giúp sức. Bị cáo Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3 đứng quan sát và chờ sẵn để bỏ chạy nên các bị cáo có vai trò lần lượt tiếp theo.
- Đối với nhóm Trần Đức P1, Hà Gia B, Trần Quang H5, Ngô Quang B1, Vũ Hoàng L2, Đặng Hoàng D1:
Các bị cáo Trần Đức P1, Trần Đức H15 khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác chuẩn hung khí, hẹn địa điểm đánh nhau, rượt đuổi, tìm kiếm nhóm Phạm Minh H. Nguyên nhân mâu thuẫn ban đầu giữa hai nhóm từ Trần Đức P1 và P1 cũng là người trực tiếp cầm hung khí là dao đuổi nhóm Phạm Minh H; bị cáo Hà Gia B cũng tham gia cùng nhóm trong việc rượt đuổi nhóm Phạm Minh H, trực tiếp cầm hai viên gạch, tham gia chạy các tuyến phố tìm kiếm nhóm Phạm Minh H và là người rủ rê Ngô Quang B1 tham gia nên các bị cáo Trần Đức P1, Hà Gia B, Trần Đức H15 có vai trò đầu trong nhóm.
Bị cáo Ngô Quang B1 mặc dù không biết mâu thuẫn giữa hai nhóm từ trước nhưng khi gặp nhóm Phạm Minh H tại ngõ A H, phường T, thành phố N đã trực tiếp dùng tuýp nước để đánh nhau với nhóm Phạm Minh H. Vì vậy, bị cáo Ngô Quang B1 có vai trò tiếp theo.
Các bị cáo Vũ Hoàng L2, Đặng Hoàng D1 điều khiển xe chở các bị cáo cáo, tham gia với vai trò giúp sức nên có vai trò tiếp theo.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Vũ Hải Đ đã bị kết án (chưa được xóa án tích), nay lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo khác không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Gia đình các bị cáo Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Vũ Hoàng L2, Hoàng Minh Đ3 và bản thân các bị cáo Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Trần Quang H5 có đơn trình bày có xác nhận của chính quyền địa phương xác định các bị cáo có nhân thân tốt, chấp hành nghiêm chính sách pháp luật của Nhà nước, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương. Ngoài ra, bị cáo Đỗ Việt H7 và bị cáo Nguyễn Văn H8 còn có đơn của Trường THPT N6, thành phố N xác nhận các bị cáo hiện nay đang theo học lớp 11 và chấp hành tốt nội quy của Nhà trường; đơn đề nghị có xác nhận của chính quyền địa 17
phương xác định các bị cáo Vũ Hoàng L2, bị cáo Trần Quang H5 hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình; bị cáo Vũ Hoàng L2, bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Nguyễn Văn H8 có ông nội là người có công với cách mạng nên các bị cáo Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Vũ Hoàng L2, Hoàng Minh Đ3, Trần Quang H5 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân của các bị cáo, xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án tù, phù hợp với từng vị trí vai trò của từng bị cáo mới có đủ tác dụng cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét, khi thực hiện hành vi phạm tội 12 bị cáo ở độ tuổi chưa thành niên, 03 bị cáo tuổi còn trẻ nên nhận thức của các bị cáo còn nhiều hạn chế, thiếu hiểu biết pháp luật; sự buông lỏng quản lý của gia đình, giáo dục của nhà trường và chính quyền địa phương; các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh gia đình của từng bị cáo để có mức hình phạt tương xứng.
Các bị cáo Phạm Minh H, Trần Tiến Đ1, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Đỗ Hoàng A1, Hoàng Minh Đ3, Trần Đức P1, Đặng Hoàng D1, Hà Gia B, Ngô Quang B1 phạm tội khi các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên các bị cáo được hưởng chế định của người chưa thành niên phạm tội theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Phạm Minh H có vai trò tích cực nhất, quyết liệt nhất nên phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Đối với bị cáo Vũ Hải Đ phạm tội trong thời gian thử thách tại bản án số 151/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội nên bị cáo Vũ Hải Đ phải chấp hành hình phạt tù cùng với hình phạt tù của bản án số 151/2023/HSST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Đối với bị cáo Trần Tiến Đ1 có nhân thân về hành vi “Cố ý gây thương tích” bị xử lý hành chính nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm. Vì vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
Các bị cáo Trần Đức P1, Đỗ Hoàng A1, Hà Gia B không có căn cứ xác định các bị cáo có khả năng tự cải tạo; để tăng cường tính răn đe và phòng ngừa chung nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhưng áp dụng mức hình phạt thấp của điều luật nhằm mục đích răn đe, giáo dục các bị cáo và góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội và cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. 18
Bản thân các bị cáo và gia đình các bị cáo Đỗ Việt H7, Trần Quang H5, Trần Viết P, Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn H8, Hoàng Minh Đ3, Vũ Hoàng L2, Ngô Quang B1 có đơn trình bày các bị cáo có nhân thân tốt, ngoài phạm tội lần này, các bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; các bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế. Gia đình cam đoan sẽ quản lý, giáo dục để các bị cáo không tiếp tục vi phạm pháp luật. Đơn trình bày và cam đoan có xác nhận của chính quyền địa phương. Xét các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Vì vậy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để các bị cáo cải tạo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đối với bị cáo Đặng Hoàng D1 thực hiện hành vi phạm tội lần đầu, là người giúp sức có vai trò không đáng kể trong vụ án nên có căn cứ áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
[6] Về xử lý vật chứng:
Vật chứng thu giữ gồm: 01 thanh kim loại, sáng màu, hình trụ đường kính khoảng 2 cm, dài khoảng 70 cm; 01 con dao tự chế dài khoảng 65 cm, lưỡi dao bằng kim loại được sơn màu đỏ dài khoảng 65 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 15 cm. Xét thấy, vật chứng thu giữ không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Các vấn đề khác:
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen-vàng, biển kiểm soát 18MA-011.64; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đen-vàng, biển kiểm soát 18MA-011.09; 01 xe máy điện nhãn hiệu Dibao GOGO S4, màu xanh xám, biển kiểm soát 18AA-138.51; 01 xe máy điện nhãn hiệu JVCECO màu đen, biển kiểm soát 90MĐ1 - 217.16; 01 xe máy điện nhãn hiệu HTC màu đen, biển kiểm soát 18MĐ1-244.61, Cơ quan điều tra đã trả lại cho người có quyền sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với Trần Viết T9, Hoàng Công Đ6, Phạm Nguyễn Tuấn A3; Nguyễn Anh V3, Vũ Thành Đ5 khi thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng khi chưa đủ 16 tuổi nên Công an thành phố N đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với Trần Quang H5, Trần Đức P1, Vũ Hoàng L2 dùng tay chân đánh không gây thương tích đối với Đỗ Việt H7, Vũ Hải Đ, Nguyễn Bảo Đ4 vào rạng sáng ngày 11/8/2024 nên Công an thành phố N đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với người tên L3 đã cho Vũ Hải Đ mượn 01 dao tự chế và cho Đỗ Việt H7 mượn 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Liberty (chưa xác định được biển kiểm 19
soát). Cơ quan điều tra tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được người này nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định của pháp luật.
- Đỗ Minh Đ7, Trần Ngọc B2, Bùi Thị Thu T12, Phan Minh C, Nguyễn Huy N5, Nguyễn Đức T13, Bùi Xuân T14, Đặng Tú U, Thảo M có mặt ở hiện trường và quan sát sự việc nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
- Nguyễn Quang T15 cho Phạm Nguyễn Tuấn A3 mượn 01 kiếm ống kim loại nhưng không biết mục đích sử dụng nên Cơ quan điều tra không xử lý là đúng quy định của pháp luật.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm:
Các bị cáo Đỗ Việt H7, Vũ Hải Đ, Phạm Minh H, Trần Viết P, Trần Tiến Đ1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Đỗ Hoàng A1, Hoàng Minh Đ3, Trần Đức P1, Trần Quang H5, Vũ Hoàng L2, Đặng Hoàng D1, Hà Gia B, Ngô Quang B1 bị kết án nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Tiến Đ1, Trần Viết P, Trần Đức P1, Trần Quang H5, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Hà Gia B, Đỗ Hoàng A1, Vũ Hoàng L2, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3, Đặng Hoàng D1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Phạm Minh H 02 năm (Hai năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Hải Đ 02 năm 03 tháng (Hai năm ba tháng) tù. Tổng hợp hình phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù tại Bản án số 151/2023/HSST ngày 28-7-2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 05 năm 03 tháng (Năm năm ba tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024, được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 27-3-2023 đến ngày 28-7-2023 tại Bản án số 151/2023/HSST ngày 28-7-2023 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. 20
3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Trần Tiến Đ1 01 năm 10 tháng (Một năm mười tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.
4. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Trần Đức P1 01 năm 09 tháng (Một năm chín tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2024.
5. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Đỗ Hoàng A1 01 năm 09 tháng (Một năm chín tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/10/2024.
6. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Hà Gia B 01 năm 09 tháng (Một năm chín tháng) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2024.
7. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Quang H5 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm (Năm năm). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Quang H5 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Trần Quang H5 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Quang H5 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
8. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
- Xử phạt bị cáo Trần Viết P 01 năm 09 tháng (Một năm chín tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. 21
Giao bị cáo Trần Viết P cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Trần Viết P thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trần Viết P cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
9. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Đỗ Việt H7 01 năm 09 tháng (Một năm chín tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Việt H7 cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Đỗ Việt H7 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đỗ Việt H7 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
10. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Ngô Quang B1 01 năm 09 tháng (Một năm chín tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Ngô Quang B1 cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Ngô Quang B1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Ngô Quang B1 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
11. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024: 22
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H8 01 năm 06 tháng (Một năm sáu tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn H8 cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn H8 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn H8 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
12. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 năm 06 tháng (Một năm sáu tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm (Ba năm). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn S cho Ủy ban nhân dân xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Văn S cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
13. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Xử phạt bị cáo Vũ Hoàng L2 02 năm 03 tháng (Hai năm ba tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 06 tháng (Bốn năm sáu tháng). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do cho bị cáo Vũ Hoàng L2 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Vũ Hoàng L2 cho Ủy ban nhân dân xã C, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Trường hợp bị cáo Vũ Hoàng L2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hoàng Minh Đ3 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 23
14. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Hoàng Minh Đ3 01 năm 03 tháng (Một năm ba tháng) tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng (Hai năm sau tháng). Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trả tự do cho bị cáo Hoàng Minh Đ3 ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Giao bị cáo Hoàng Minh Đ3 cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án.
Trường hợp bị cáo Hoàng Minh Đ3 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hoàng Minh Đ3 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
15. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 179 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024:
Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng D1 01 năm (Một năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2024
16. Xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 thanh kim loại sáng màu, hình trụ, đường kính 02 cm, dài khoảng 70 cm; 01 con dao tự chế dài khoảng 65 cm, lưỡi dao bằng kim loại được sơn màu đỏ dài khoảng 65 cm, cán dao bằng gỗ dài khoảng 15 cm. (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12-02-2025 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định và Công an thành phố N).
17. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Các bị cáo Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Tiến Đ1, Trần Đức P1, Đỗ Hoàng A1, Hà Gia B, Trần Quang H5, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Vũ Hoàng L2, Hoàng Minh Đ3, Đặng Hoàng D1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
18. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo Phạm Minh H, Vũ Hải Đ, Trần Tiến Đ1, Trần Đức P1, Đỗ Hoàng A1, Hà Gia B, Trần Quang H5, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Vũ Hoàng L2, Hoàng Minh Đ3, Đặng Hoàng D1; người 24
đại diện theo pháp luật của các bị cáo Trần Tiến Đ1, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3, Đặng Hoàng D1; người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh H, Trần Tiến Đ1, Trần Đức P1, Trần Viết P, Đỗ Việt H7, Ngô Quang B1, Nguyễn Văn H8, Nguyễn Văn S, Hoàng Minh Đ3, Đặng Hoàng D1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
12. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự: Các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Tống Thị Kim Phượng |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án gây rối trật tự công cộng tại thành phố Nam Định
