|
TAND HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2025/HS-ST Ngày 21 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Tuấn
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu, bà Chẻo Thị Hà
Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Thái – Thư ký Tòa án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ tham gia phiên toà: Ông Phùng Văn Chử – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở TAND huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 07/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đào Thị B – Sinh năm 1964 tại Y, quận T, thành phố Hà Nội; giới tính: Nữ; tên gọi khác: không; nơi thường trú: số nhà A, đường A, phường Y, quận T, thành phố Hà Nội; chỗ ở trước khi bị bắt: số nhà A, ngõ B, đường Â, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/10; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông: Đào Văn S – đã chết; con bà: Nguyễn Thị T – đã chết. Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, ruột bị cáo là con thứ 08 trong gia đình; Chồng thứ nhất: Hoàng Văn T1 – đã chết. Chồng thứ hai: Trần Viết B1, sinh năm 1952 (đã ly hôn). Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 1984, con nhỏ sinh năm 1991. Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
- + Tại Bản án số 257/HSPT ngày 11/9/1986 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, xử phạt Đào Thị B 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- + Ngày 04/8/1989 Công an quận Đ, thành phố Hà Nội lập danh chỉ bản về hành vi trộm cắp tài sản công dân;
- + Tại Bản án số 210 ngày 07/5/1998 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Hà Nội xử phạt Đào Thị B 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân";
- + Năm 1999, Công an phường N, quận C, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính đối với Đào Thị B về hành vi gây rối trật tự công cộng với mức xử phạt Cảnh cáo;
- + Tại Bản án số 140 ngày 12/9/2000 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt Đào Thị B 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”;
- + Tại Bản án số 06/2005/HSST ngày 20/12/2005 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, xử phạt Đào Thị B 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản";
- + Tại Bản án số 08/2008/HSST ngày 12/3/2008 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xử phạt Đào Thị B 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản"
- + Tại Bản án số 113/HSST ngày 22/7/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt Đào Thị B 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản";
- + Tại Bản án số 20/2020/HSST ngày 24/3/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang, tuyên bố Đào Thị B phạm tội “Trộm cắp tài sản"; xử phạt Đào Thị B 10 tháng tù. Ngày 07/10/2020, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án. Tính đến lần phạm tội này (ngày 15/09/2024), bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo bị bắt và bị tạm giữ từ ngày 15/9/2024, tạm giam từ ngày 18/9/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện S, tỉnh Lai Châu. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: Bà Lường Thị Y - sinh năm 1978 – Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn S, huyện S, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Tối ngày 14/9/2024, Đào Thị B bắt xe khách từ bến xe M, thành phố Hà Nội đến thị trấn S, huyện S. Khoảng 07 giờ sáng ngày 15/9/2024, khi đến B thị trấn S, B đi bộ vào trong chợ T2 thị trấn S thuộc khu phố E, thị trấn S, huyện S để tìm mua dược liệu. Sau đó, B đi tới quầy hàng tạp hóa của chị Lường Thị Y, sinh năm 1978, trú tại khu phố D, thị trấn S, thấy chị Y để một túi xách trên kệ hàng, bên trong có tiền và điện thoại di động liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, quan sát thấy chị Y đang bán hàng cho khách và không có ai để ý nên Đào Thị B đã lấy trộm túi xách của chị Y, rồi chạy ra cổng chợ, đi nhờ xe ô tô không rõ BKS của một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đến bến xe khách tỉnh Lai Châu để bắt xe mang về tiêu sài cá nhân.
Hồi 07 giờ 18 phút ngày 15/09/2024, Tổ công tác Công an thị trấn S đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát đã truy đuổi Đào Thị B, đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi đến Bến xe khách tỉnh Lai Châu thuộc phường Đ, thành phố L, Tổ công tác khống chế, thu giữ trên người của Đào Thị B 01 bọc nilon màu đen, bên trong 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narzo 50i, màu đen; 01 căn cước công
dân mang tên Lường Thị Y 01 ví giả da màu đen- trắng và số tiền 13.125.000 đồng (gồm nhiều loại tiền có mệnh giá khác nhau). Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa Đào Thị B khai nhận số tiền 13.125.000 đồng, trong đó: 9.836.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narzo 50i màu đen, 01 căn cước công dân và 01 ví giả da là do Đào Thị B trộm cắp tại quầy hàng tạp hóa của chị Lường Thị Y, số tiền 3.289.000 đồng là tiền của bị cáo. Quá trình điều tra, truy tố đã đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 14 ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện S, kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme Narzo 50i, loại RMX 3235, màu đen, mua và sử dụng từ tháng 08/2022 có giá trị là 1.100.000 đồng.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ những vật chứng sau:
Đối với số tiền 13.125.000 đồng, xác định: 9.836.000 đồng, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme Narzo 50i màu đen và 01 CCCD mang tên Lường Thị Y, đều là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Lường Thị Y. Ngày 10/10/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại toàn bộ số tài sản này cho chị Lường Thị Y. Đối với số tiền 3.289.000 đồng, xác định là tiền cá nhân của bị cáo Đào Thị B, không liên quan đến vụ án. Ngày 10/10/2024, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại số tiền này cho Đào Thị B là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Vật chứng còn lại gồm: 01 túi vải sáng màu, 01 chiếc ví giả da màu đen trắng (đã qua sử dụng) và 01 chiếc túi nilon màu đen.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi được trả lại tài sản, người bị hại Lường Thị Y không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Bản cáo trạng số 07/CT - VKSSH ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ đã Truy tố bị cáo Đào Thị B ra trước Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đào Thị B từ 01 năm 04 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc túi nilon màu đen. Trả lại cho bà Lường Thị Y: 01 túi vải sáng màu, có quai, dó dòng chữ “DUYEN THI”, có nhiều họa tiết, 01 chiếc ví giả da màu đen trắng (đã qua sử dụng).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Bị cáo nhất trí và không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng bị cáo Đào Thị B rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện S, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để khẳng định: khoảng 07 giờ ngày 15/09/2024, tại quầy bán hàng tạp hóa của chị Lường Thị Y, tại chợ T2 thị trấn S thuộc khu phố E, thị trấn S, huyện S, bị cáo Đào Thị B đã có hành vi trộm cắp số tiền 9.836.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Narzo 50i, trị giá 1.100.000 đồng của chị Lường Thị Y, sinh năm 1978, trú tại khu phố D, thị trấn S, huyện S mang về để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an thị trấn S, Huyện S truy đuổi bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng vào hồi 11 giờ cùng ngày. Bị cáo Đào Thị B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là: 10.936.000 đồng.
Hành vi phạm tội của Đào Thị B là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Đối với các lần phạm tội trước bị cáo đã đương nhiên được xóa án tích, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, xét nhân thân và các tình tiết Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã phạm tội nhiều lần, nhân thân xấu không lấy đó mà làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài nhất định để giáo dục, răn đe bị cáo, giúp bị cáo cải tạo, phấn đấu trở thành công dân tốt,
sống tôn trọng quy định của pháp luật và có ích cho gia đình, xã hội. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[4] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo làm nghề tự do công việc và thu nhập không ổn định, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc túi nilon màu đen. Trả lại cho bà Lường Thị Y: 01 túi vải sáng màu, có quai, dó dòng chữ “DUYEN THI”, có nhiều họa tiết, 01 chiếc ví giả da màu đen trắng (đã qua sử dụng).
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 46, điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47, Điều 38 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án đối với bị cáo:
1. Tuyên bố bị cáo Đào Thị B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Đào Thị B: 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/9/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy: 01 chiếc túi nilon màu đen. Trả lại cho bà Lường Thị Y: 01 túi vải sáng màu, có quai, dó dòng chữ “DUYEN THI”, có nhiều họa tiết, 01 chiếc ví giả da màu đen trắng (đã qua sử dụng). (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 8 giờ 00 phút ngày 14/01/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ).
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ toạ phiên toà Lê Minh Tuấn |
Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 45/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Thị Bẩy phạm tội Trộm cắp tài sản
