Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 45/2025/DS-PT

Ngày 06/02/2025

V/v tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử đất, hủy giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam

Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng

Ông Phạm Văn Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Trần Thị Ngọc, Kiểm sát viên cao cấp;

Ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 493/2024/TLPT-DS ngày 22/10/2024 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng nguyên đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 608/2025/QĐPT ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 (đã chết ngày 29/10/2023).

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:

  • Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964 (có mặt);
  • Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1993 (có đơn xin vắng mặt);
  • Cùng địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
  • Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số D, khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt);

Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Ngọc K: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số D, khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Ngọc K, chị Nguyễn Thị L: Luật sư Bùi Thế V và Luật sư Nguyễn Thị Thu H1 – Văn phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố H, có mặt.

Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Xuân T1 (tên gọi khác là Nguyễn Văn S), sinh năm 1939; Địa chỉ: Chợ T, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  2. Ông Nguyễn Việt C, sinh năm 1977; Bà Ngô Thị B, sinh năm 1979; Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (đều có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Văn H2, sinh năm 1983; Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1989; Cùng địa chỉ: Xóm B, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (đều vắng mặt).
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông H2, bà H3: Ông Phạm Ngọc O, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tầng B, số A, phố T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội (có mặt).

  3. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; và anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1993; Cùng địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (bà H có mặt, anh K có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
  5. Người đại diện theo ủy quyền của bà H, anh K: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu Đ, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).

  6. Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1968; và chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1971; Cùng địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  7. UBND thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Địa chỉ: Số A L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  8. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B; Địa chỉ: Số G, đường H, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
  9. UBND phường T, thành phố T (vắng mặt).
  10. Văn phòng C1; Địa chỉ: Số nhà E đường L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 16/3/2022 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:

Ngày 04/8/2003, vợ chồng ông có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T2 một phần của thửa đất số 231, tờ bản đồ 5P, diện tích 63m² tại xóm T, xã T, thị xã T (nay là khu phố T, phường T, thành phố T) (gọi tắt là thửa đất 231). Thửa đất đã được UBND huyện T (viết tắt UBND) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCNQSDĐ) số H496101 ngày 10/10/1995. Khi chuyển nhượng hai bên có viết giấy chuyển nhượng quyền sở hữu đất với nội dung: “Chúng tôi gồm: 1. Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị H; 2. Ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T2; 3. Người làm chứng là bà Nguyễn Thị S1. Hai bên đã bàn bạc và đi đến thống nhất ông T nhất trí chuyển nhượng lô đất thổ cư cho ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T2 người cùng thôn T, T với diện tích đất có mặt bằng hiện trạng như sau: Chiều rộng (mặt phía Bắc) trên đường rẽ vào xóm B, T có chiều rộng bằng 5,5m. (Một phần trên sổ đỏ có số H496101); Phía N (đằng sau) giáp nhà ông Kim D; Phía Tây giáp đất của bà H6; Phía Đông giáp đất của ông T (tức người chuyển nhượng) có chiều sâu là quân bình 11m25 (rộng 5,5m). Số tờ bản đồ 5P, số thửa 231. Với giá chuyển nhượng là 400.000đ/m². (Bốn trăm ngàn đồng). Điều kiện cho cả hai bên: Bên chính chủ (tức ông T) lo giải phóng mặt bằng như đã thống nhất, thời gian chậm nhất là 2 tháng. Thời gian được tính từ ngày giấy này được thống nhất và ký tên. Mọi việc có liên quan đến công việc giải phóng mặt bằng ông T phải có trách nhiệm giải quyết; Bên được chuyển nhượng: Thủ tục làm GCNQSDĐ (tách sổ) cộng thuế và chi phí khác của phần chuyển nhượng đã được được thống nhất trên giấy này. Lo thanh toán đủ, khi bên ông T bàn giao mặt bằng (căn cứ vào diện tích thực sau khi giải phóng mặt bằng). Giấy này được thông qua cho cả hai bên cùng nghe và ký kết thống nhất. Bên nào sai bên ấy phải chịu trách nhiệm trước gia đình và pháp luật hiện hành”.

Sau khi ký hợp đồng này, vợ chồng ông đã nhận tiền đầy đủ của ông S, bà T2 như hợp đồng ký kết với giá 400.000đ/m². Hợp đồng này có chữ ký của bà T2 và chữ ký của vợ chồng ông, nhưng không làm thủ tục công chứng, chứng thực tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, và hai bên không làm thủ tục đăng ký biến động đối với thửa đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Ông đã được xem hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2008 giữa vợ chồng ông và ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B. Ông khẳng định ông không chuyển nhượng đất cho ông C, bà B. Chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng này không phải chữ ký của vợ chồng ông. Và chữ ký tại biên bản thẩm tra hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2008 và đơn xin đăng ký biến động về sử dụng đất gửi UBND huyện T ngày 14/7/2008 cũng không phải là chữ ký của ông. Vợ chồng ông là người giữ GCNQSDĐ và ông đã cung cấp GCNQSDĐ mang tên Nguyễn Văn T cho bà T2, ông S để ông S, bà T2 làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Ông không hiểu vì sao cơ quan Nhà nước có thẩm quyền lại cấp GCNQSDĐ cho ông C, bà B. Ông S, bà T2 trả lại ông G nhưng do ông không để ý nên không phát hiện cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào trang bổ sung chuyển nhượng 63m² cho ông C, bà B. Bản thân ông vẫn nghĩ là cấp cho ông S, bà T2. GCNQSDĐ của gia đình ông hiện ông vẫn lưu giữ và không có ý kiến phản đối gì. Năm 2018, ông định tách một phần đất cho con gái thì phát hiện ra có tên phần chuyển nhượng cho ông C, bà B nhưng ông không làm đơn khiếu nại hay khởi kiện đối với việc này. Năm 2022, ông làm thủ tục đăng ký biến động nhưng không được do có sự nhầm lẫn về loại đất trong GCNQSDĐ nhưng không liên quan đến việc tách thửa đất đã chuyển nhượng. Vì vậy, ông đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án.

Ông được biết ông C, bà B đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AN 192561 ngày 07/8/2008 . Ông cho rằng thủ tục cấp GCNQSDĐ cho ông C, bà B là không đúng.

Việc ông S, bà T2 cũng như ông C, bà B trình bày sau khi ông S, bà T2 nhận chuyển nhượng ông S, bà T2 chưa làm thủ tục tách GCNQSDĐ nên đã trao đổi với vợ chồng ông về việc ông, bà ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại UBND xã T cho ông C, bà B để tiện việc làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Ông không đồng ý với lời trình bày này vì bản thân ông không ký vào hợp đồng và chữ ký trong hợp đồng cũng không phải của ông.

Đến ngày 04/5/2016, ông C, bà B đã lập hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất trên cho ông H5, bà H3. Sau khi hoàn thiện các thủ tục với nhà nước ngày 25/5/2016, ông H5, bà H3 được Sở Tài nguyên môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 234044.

Từ trước đến nay vợ chồng ông vẫn sinh sống trên thửa đất liền kề với thửa đất đã chuyển nhượng nhưng vợ chồng ông không có ý kiến gì.

Nay ông xin rút yêu cầu hủy GCNQSDĐ mà UBND huyện T đã cấp cho ông đối với thửa đất số 457, tờ bản đồ 5P tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, và đề nghị Tòa án:

  • Tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T2 được lập ngày 04/8/2003 đối với một phần thửa đất số 231, tờ bản đồ 5P, diện tích 61,5m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và giải quyết hậu quả của hợp đồng.
  • Yêu cầu hủy chứng thực không đúng quy định của UBND xã T tại GCNQSDĐ số H496101 cấp ngày 14/7/2008 mang tên Nguyễn Văn T và văn bản chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/7/2008 giữa người chuyển nhượng là ông bà T, H với người tự nhận là người nhận chuyển nhượng là anh chị C, B; xem xét trách nhiệm quyền và nghĩa vụ của người thực hiện chứng thực. Cụ thể là của UBND xã T (nay là phường T) chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện chứng thực của mình. Theo đó, yêu cầu UBND phường T bồi thường chi phí cho chủ sở hữu trong việc khắc phục hậu quả và tổn thất vật chất và tinh thần do hành vi thi hành nhiệm vụ, công vụ trái với quy định mang lại.
  • Không công nhận và tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên (do cùng một đối tượng chuyển nhượng) giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B được xác lập không thể hiện ngày, tại đâu (có diện tích 63m²) và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
  • Thu hồi GCNQSDĐ đã cấp trái pháp luật số AN192561 đối với thửa đất số 634 tờ bản đồ 5P, diện tích 63m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh được cấp cho anh Nguyễn Việt C, chị Ngô Thị B.
  • Tuyên văn bản công chứng và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B với ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 đối với diện tích đất trên tại văn phòng C1 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
  • Yêu cầu ông S, bà T2, ông C và bà B phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường cho ông những chi phí tổn thất về vật chất và tinh thần theo quy định của pháp luật do những việc làm trái pháp luật mang lại cho ông.
  • Thu hồi GCNQSDĐ số CD234044 đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ 61 tại thôn T, xã T (nay là KP T, phường T), thành phố T, tỉnh Bắc Ninh được cấp cho ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B thực hiện thủ tục hành chính cấp ngày 25/5/2016.
  • Ông S, bà T2 phải trả lại cho ông thửa đất đã nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật, và đề nghị Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật.
  • Hủy phần cập nhật biến động liên quan đến việc chuyển nhượng một phần thửa đất (nói trên) vô hiệu trong GCNQSDĐ số H9496101 cấp ngày 10/10/1995 mang tên Nguyễn Văn T.
  • Yêu cầu giám định viên tham gia giám định chữ viết chữ ký có văn bản giải trình về kết luận giám định theo trưng cầu giám định của Tòa án.

Bị đơn là ông Nguyễn Xuân T1 (Nguyễn Văn S) trình bày:

Ngày 04/8/2003, ông T, bà H có chuyển nhượng cho vợ chồng ông bà thửa đất số 231 đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số H 496101 ngày 10/10/1995. Khi chuyển nhượng hai bên có viết giấy chuyển nhượng quyền sở hữu đất với nội dung như ông T khai ở trên. Sau khi ký hợp đồng, vợ chồng ông đã thanh toán đầy đủ tiền cho vợ chồng ông T như hợp đồng ký kết. Do không có nhu cầu sử dụng thửa đất nên ngày 15/7/2008, vợ chồng ông đã chuyển nhượng lại thửa đất cho vợ chồng ông Nguyễn Việt C và bà Nguyễn Thị B1. Giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng là 37.000.000đ nhưng thực tế hai bên thanh toán cho nhau số tiền 180.000.000đ theo giấy biên nhận ngày 08/8/2008. Vì sau khi nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông T, vợ chồng ông chưa làm thủ tục tách GCNQSDĐ nên vợ chồng ông đã trao đổi với vợ chồng ông T về việc vợ chồng ông T sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng tại UBND xã T, thị xã T cho ông C, bà B1 để tiện thủ tục làm GCNQSDĐ. Vợ chồng ông T cũng như ông C, bà B1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng hoàn toàn tự nguyện và được chứng thực theo đúng quy định của pháp luật tại UBND xã T.

Tại Biên bản thẩm tra hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2008, ông T là người đã ký tên vào đại diện bên chuyển nhượng đất và ký vào Đơn xin đăng ký biến động về sử dụng đất gửi UBND huyện T ngày 14/7/2008. Ông T, bà H cũng đã cung cấp GCNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Văn T để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào trang bổ sung chuyển nhượng 63m² cho ông C, bà B1. Sau khi ông C, bà B1 được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ đã chuyển nhượng lại thửa đất cho ông H2, bà H3. Ông H2, bà H3 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Từ đó đến nay, vợ chồng ông T vẫn giữ GCNQSDĐ, sinh sống trên thửa đất liền kề với thửa đất đã chuyển nhượng nhưng không có ý kiến gì.

Ông xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 63m² đất đã tuân thủ các quy định của pháp luật và người nhận chuyển nhượng đã được nhà nước công nhận bằng việc cấp GCNQSDĐ cho họ. Do bận công việc nên ông không thể có mặt tại Tòa án. Ông đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc của Tòa án cũng như xét xử sau này và đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

Bị đơn là ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B trình bày: Vợ chồng ông bà có nhận chuyển nhượng thửa đất số 231 đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số H 496101 ngày 10/10/1995 từ ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T2. Nguồn gốc thửa đất này là ông S, bà T2 nhận chuyển nhượng từ ông T, bà H. Do khi nhận chuyển nhượng ông S, bà T2 chưa làm thủ tục cấp GCNQSDĐ nên ông S, bà T2 đã đề nghị ông T, bà H ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông bà. Ngày 05/7/2008, ông T, bà H đã chuyển nhượng lại cho ông bà thửa đất với giá ghi trong hợp đồng là 37.000.000đ nhưng số tiền thực tế hai bên đưa cho nhau là 180.000.000₫ theo giấy biên nhận ngày 08/8/2008 giữa vợ chồng ông bà và ông S, bà T2. Hợp đồng được lập tại UBND xã T, thị xã T, có đầy đủ chữ ký của hai bên và được UBND xã T chứng thực. Ông T, bà H ký hợp đồng hoàn toàn tự nguyện.

Tại Biên bản thẩm tra hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2008, ông T cũng là người ký tên vào đại diện bên chuyển nhượng đất và ký vào đơn xin đăng ký biến động về sử dụng đất gửi UBND huyện T ngày 14/7/2008. Ông T cũng là người cung cấp GCNQSDĐ mang tên ông T để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào trang bổ sung chuyển nhượng 63m² cho ông C, bà B. Ông T cũng là người giữ GCNQSDĐ của gia đình ông T từ đó đến nay nhưng không có ý kiến gì. Đến nay ông bà đã được cấp GCNQSDĐ số AN 192561 ngày 07/8/2008 mang tên ông bà. Sau đó, do không có nhu cầu sử dụng nên ngày 04/5/2016, ông bà đã chuyển nhượng lại thửa đất trên cho anh Trần Văn H2 và chị Nguyễn Thị H3. Khi chuyển nhượng hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng và được công chứng tại văn phòng C1. Trong hợp đồng ghi giá là 100.000.000đ nhưng thực tế hai bên giao nhận số tiền là 450.000.000đ. Sau khi hoàn thiện các thủ tục với nhà nước, anh H2, chị H3 cũng đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 234044 ngày 25/5/2016. Từ trước đến nay vợ chồng ông T vẫn sinh sống trên thửa đất liền kề với diện tích đất vợ chồng ông T đã chuyển nhượng nhưng không có ý kiến gì. Ông bà xác định hợp đồng chuyển nhượng 63m² đất đã đúng các quy định của pháp luật. Do đó, ông bà đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Trần Văn H2, chị Nguyễn Thị H3 do ông Phạm Ngọc O là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 04/5/2016, tại văn phòng C1, vợ chồng anh H2, chị H3 và vợ chồng ông C, bà B đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 49, tờ bản đồ 61, diện tích 61,3m² ở xóm T, xã T, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố T, phường T, thành phố T). Thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ số AN 192561 ngày 07/8/2008 mang tên ông C, bà B. Trong hợp đồng ghi giá chuyển nhượng là 100.000.000đ nhưng thực tế số tiền hai bên giao nhận là 450.000.000đ. Sau khi hoàn thành các thủ tục với nhà nước ngày 25/5/2016, anh H2, chị H3 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 234044. Nay ông T khởi kiện đề nghị tuyên bố các hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu anh H2, chị H3 không đồng ý. Vì từ trước đến nay vợ chồng ông T vẫn sinh sống trên thửa đất sát diện tích đất mà vợ chồng ông T đã chuyển nhượng nhưng không có ý kiến gì. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã tuân thủ các quy định của pháp luật và người nhận chuyển nhượng được cấp GCNQSDĐ. Anh H2, chị H3 đã được Tòa án thông báo kết quả trả lời của UBND thành phố T về việc GCNQSDĐ của ông T cấp không đúng đối tượng. Hồ sơ đề nghị cấp GCNQSDĐ cho ông T là đất ao nhưng trong giấy chứng nhận ghi là đất thổ cư. Anh H2, chị H3 chỉ biết khi nhận chuyển nhượng thì giấy chứng nhận ghi là đất thổ cư thì anh chị nhận chuyển nhượng là đất thổ cư và diện tích đất anh chị nhận chuyển nhượng đã được cấp GCNQSDĐ.

- UBND thành phố T trình bày: Năm 1995, hộ ông Nguyễn Văn T đã lập hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ đối với 16 thửa đất có tổng diện tích 1.955,0m² gồm: Thửa đất ở số 407, tờ bản đồ số 5P, diện tích 216,0 m²; Thửa đất ao số 231, tờ bản đồ số 5, diện tích 288,0m² và 14 thửa đất trồng lúa bao gồm: 02 thửa đất thuộc tờ bản đồ địa chính số 5 là thửa số 100 (6) diện tích 214,0 m² và thửa số 164 (10) diện tích 224,0m²; 12 thửa đất thuộc tờ bản đồ địa chính số 6 gồm các thửa số: 78 (38) diện tích 69,0m²; 130 (6) diện tích 64,0 m²; 69 (2) diện tích 56,0m²; 53 (5) diện tích 21,0m²; 73 (26) diện tích 29,0 m²; 127 (1) diện tích 197,0m²; 155 (14) diện tích 245,0m²; 40 (7) diện tích 73,0m²; 77 (6) diện tích 23,0m²; 140 (9) diện tích 184,0m²; 67(1) diện tích 19,0m² và thửa 152 (36) diện tích 33,0m² đều tại thôn T, xã T. Hồ sơ của hộ ông T và nhân dân xã T được UBND xã T tổ chức xét duyệt, công khai hồ sơ theo quy định và đề nghị UBND huyện T cấp GCNQSDĐ (đồng loạt). Ngày 10/10/1995, UBND huyện T ban hành Quyết định cấp GCNQSDĐ số 303/QĐ-UB; theo quyết định này, hộ ông Nguyễn Văn T được cấp GCNQSDĐ số H 496101 đối với 16 thửa đất có tổng diện tích 1.955,0m² nêu trên.

Qua kiểm tra, rà soát, việc lập, xét duyệt, niêm yết công khai hồ sơ và cấp GCNQSDĐ số H 496101 ngày 10/10/1995 cho hộ ông Nguyễn Văn T (vợ là bà Nguyễn Thị H) trú tại thôn T, xã T đối với 16 thửa đất tại thôn T, xã T có tổng diện tích 1.955,0 m² (trong đó có thửa đất số 231, tờ bản đồ số 5, diện tích 288,0m² tại thôn T, xã T. Mục đích sử dụng: Đất Ao) đã được UBND xã T, các cơ quan chức năng của huyện và UBND huyện T (nay là thành phố T) thực hiện đầy đủ, đúng các trình tự, thủ tục theo quy định của Luật đất đai năm 1993 và các quy định của pháp luật hiện hành tại thời điểm cấp GCNQSDĐ.

Về việc đăng ký biến động đất đai:

Đối với hộ ông Nguyễn Văn T: Quá trình sử dụng, hộ ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng quyền sử dụng 63,0m² đất là một phần thửa đất số 231 cho ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B (vợ ông C) ở thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Diện tích còn lại của thửa đất số 231 của hộ ông Nguyễn Văn T là 225,0m², nội dung này đã được cập nhật, chỉnh lý biến động ngày 07/8/2008 tại trang 4 GCNQSDĐ số H 496101 của hộ ông T theo quy định.

Như vậy, sau khi hộ ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng quyền sử dụng 63,0m² đất là một phần thửa đất số 231, hộ ông T đã thực hiện việc đăng ký biến động, điều chỉnh giảm diện tích thửa đất số 231 xã T từ 288,0m² thành 225,0m² ngày 07/8/2008 theo quy định.

Đối với ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B: Năm 2008, ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B lập hồ sơ xin đăng ký, cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 634, tờ bản đồ số 5P, diện tích 63,0m² tại thôn T, xã T (viết tắt là thửa đất 634) (là một phần của thửa đất số 231) với mục đích xin cấp GCNQSDĐ là ONT (đất ở); Nguồn gốc sử dụng đất. Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T,

Ngày 07/8/2008, UBND huyện (nay là thành phố) Từ Sơn ban hành quyết định số 870/QĐ-UBND về việc cấp mới GCNQSDĐ. Theo quyết định này, ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B được cấp GCNQSDĐ số AN 192561 đối với thửa đất số 634, mục đích sử dụng đất là ONT (đất ở), địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T. Tuy nhiên, tại hồ sơ cấp GCNQSDĐ của ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B không còn lưu trữ được các tài liệu thể hiện ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B được cấp thẩm quyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước khi chuyển mục đích sử dụng đất từ đất ao sang đất ở theo quy định.

Đối với ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3: Theo Văn bản số 203/2022/CV-TA ngày 26/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn, ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất trên cho ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 trú tại thôn T, xã T và ngày 25/5/2016 ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ số CĐ 234044 ngày 25/5/2016 đối với thửa đất trên.

Theo quy định của pháp luật, GCNQSDĐ số AN 192561 do UBND huyện (nay là thành phố) Từ Sơn cấp ngày 07/8/2008 cho ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B sẽ được cấp thẩm quyền thu hồi và hủy bỏ theo quy định khi cấp GCNQSDĐ số CĐ 234044 ngày 25/5/2016 cho ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 trú tại thôn T, xã T.

Quan điểm của UBND thành phố T: Việc UBND huyện (nay là thành phố) Từ Sơn cấp GCNQSDĐ số AN 192561 đối với thửa đất số 634, với nguồn gốc sử dụng đất là nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T, cho ông Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B ở thôn T, xã T với mục đích sử dụng đất là đất ở theo Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 07/8/2008 của UBND huyện T là chưa đảm bảo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, GCNQSDĐ số AN 192561 do UBND huyện T đã được cấp thẩm quyền thu hồi khi cấp GCNQSDĐ số CĐ 234044 ngày 25/5/2016 đối với thửa đất trên cho ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 trú tại thôn T, xã T. Để đảm bảo thực hiện đúng quy định của pháp luật, UBND thành phố T đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Do điều kiện công việc nên người đại diện theo ủy quyền của UBND thành phố T xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và phiên tòa.

- UBND phường T trình bày: Ngày 04/5/1986, thôn T có biên bản giao đất Ao cho ông Nguyễn Văn T với diện tích là 253m², số gạch ông T phải nộp cho thôn là 53400 viên gạch cho thôn T (Biên bản này do ông T cung cấp). Tại sổ thống kê kiêm giải thửa và bản đồ địa chính năm 1987 hiện còn lưu trữ tại UBND phường thửa đất trên được thể hiện là thửa đất số 162, diện tích 780m², chủ hộ: HTX, ký hiệu là đất Ao.

Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất, hồ sơ đất ở (năm 1994), sổ mục kê, sổ địa chính (năm 1995), thửa đất số 231, tờ bản đồ số 5P, diện tích 288m², đăng ký chủ sử dụng đất Nguyễn Văn T, mục đích sử dụng đất được thể hiện là đất Ao;

Căn cứ theo Quyết định số 303/QĐ-UB ngày 10/10/1995 của UBND huyện T, hộ ông Nguyễn Văn T được cấp 01 giấy chứng nhận QSDĐ số I 496101, chủ sử dụng đất Nguyễn Văn T được cấp 1955m² đất (bao gồm cả đất ở và đất nông nghiệp).

Trình tự thủ tục chứng thực vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B được lập tại UBND xã T ngày 15/7/2008 được thực hiện trình tụ thủ tục đúng theo quy định của pháp luật.

- Bà Ngô Thị Thu H7, Trưởng Văn phòng C1 trình bày: Ngày 04/5/2016, tại trụ sở Văn phòng C1 đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B với bên nhận chuyển nhượng là ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3; tài sản chuyển nhượng là thửa đất số 49, tờ bản đồ 61, diện tích 61m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. Văn phòng C1 xác định đã làm đúng thủ tục, thẩm quyền theo pháp luật quy định. Nay xảy ra tranh chấp đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Văn phòng xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như phiên tòa các cấp.

- Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B gửi Công văn số 1024/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 15/5/2024 trình bày: Trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ và đăng ký biến động đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Căn cứ Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của TANDTC thì Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B, Văn phòng đăng ký đất đai không tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 26, 34, 147, 217 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 106, 107, 127 Luật Đất đai; Các Điều 500; 501; 502; 503 Bộ luật dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T (nay là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T bao gồm: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1993 và chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985) về việc:
    • Tuyên hủy giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H với người nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T2 được lập ngày 04/8/2003 đối với một phần thửa đất số 231, tờ bản đồ 5P, diện tích 61,5m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và giải quyết hậu quả của hợp đồng.
    • Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên (do cùng một đối tượng chuyển nhượng) giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H với ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B được xác lập không thể hiện ngày, tại đâu (có diện tích 63m²) vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
    • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở T đã cấp số CS14382 ngày 12/6/2015 đối với thửa đất số 634 tờ bản đồ 5P, diện tích 63m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh được cấp cho anh Nguyễn Việt C, chị Ngô Thị B.
    • Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp số CD234044 ngày 25/5/2016 đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ 61 tại thôn T, xã T (nay là khu phố T, phường T), tp T, tỉnh Bắc Ninh được cho ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3.
    • Yêu cầu ông S, bà T2 phải trả lại cho ông thửa đất đã nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
  2. Đình chỉ các yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T (nay là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T bao gồm: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; Anh Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1993 và chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985) về việc:
    • Yêu cầu hủy chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định số H496101 mang tên Nguyễn Văn T không đúng quy định ngày 14/7/2008 của Ủy ban nhân dân xã T và văn bản chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/7/2008 giữa người chuyển nhượng là ông bà T, H với người tự nhận là người nhận chuyển nhượng là anh chị C, B và xem xét trách nhiệm quyền và nghĩa vụ của người thực hiện chứng thực. Cụ thể là của Ủy ban nhân dân xã T (nay là phường T) chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện chứng thực của mình. Theo đó, yêu cầu Ủy ban nhân dân phường T bồi thường chi phí cho chủ sở hữu cho việc khắc phục hậu quả và tổn thất vật chất và tinh thần do hành vi thi hành nhiệm vụ, công vụ trái với quy định mang lại.
    • Tuyên văn bản công chứng và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B với ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 đối với diện tích đất trên tại văn phòng C1 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
    • Yêu cầu ông S, bà T2, ông C và bà B phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường cho ông những chi phí tổn thất về vật chất và tinh thần theo quy định của pháp luật do những việc làm trái pháp luật mang lại cho chủ sử dụng là ông.
    • Hủy phần cập nhật biến động liên quan đến việc chuyển nhượng một phần thửa đất (nói trên) vô hiệu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H9496101 cấp ngày 10/10/1995 mang tên Nguyễn Văn T.
    • Yêu cầu giám định viên tham gia giám định chữ viết chữ ký có văn bản giải trình về kết luận giám định theo trưng cầu giám định của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn.
    • Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H496101 đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 231, tờ bản đồ 5P, diện tích 288m² tại khu phố T, phường T, tp T, tỉnh Bắc Ninh ngày 10/10/1995.

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.

Ngày 08/7/2024, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Ngọc K và Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm

Tại phiên tòa phúc thẩm, không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn..

Bị đơn là ông Nguyễn Xuân T1, anh Nguyễn Việt C và bà Ngô Thị B về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn trong thời gian luật định nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là không có căn cứ chấp nhận, Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Ngày 08/7/2024, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Ngày 16/3/2022, ông Nguyễn Văn T có đơn khởi kiện đề nghị hủy các Giấy chuyển nhượng ngày 04/8/2003, hủy Hợp đồng chuyển nhượng ngày 15/7/2008 và Hợp đồng chuyển nhượng ngày 04/5/2016, buộc bà T3 trả lại đất cho ông và ông trả lại tiền, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn tiếp nhận và thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 27/3/2023, ông T thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) UBND huyện T đã cấp cho ông T vì ông T cho rằng khi đăng ký cấp GCNQSDĐ thể hiện là đất ao nhưng khi cấp GCNQSDĐ lại là đất ở. Do có căn cứ hủy GCNQSDĐ đã cấp cho ông T, xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy GCNQSDĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và thời hiện khởi kiện vẫn còn nên Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn đã chuyển hồ sơ vụ án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 26, Điều 34, Điều 37 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị đơn là ông Nguyễn Xuân T1 (tên gọi khác là S), ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B đều có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn vắng mặt, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt; do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt những người này và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.4] Tại phiên tòa sơ thẩm, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn chỉ yêu cầu Tòa án xem xét tuyên huỷ Giấy chuyển nhượng quyền sở hữu đất ngày 04/8/2003 ký giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị T2; Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H với Nguyễn Việt C, Ngô Thị B được UBND xã T chứng thực ngày 15/7/2008 vô hiệu, buộc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; Tuyên huỷ GCNQSDĐ số AN 192561 do UBND huyện T cấp ngày 07/8/2008 và GCNQSDĐ số CA839581 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 12/6/2015 (cấp đổi) cho ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B; Tuyên huỷ GCNQSDĐ số CĐ 234044 ngày 25/5/2016 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3; Tuyên buộc ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 (người đang quản lý, sử dụng) trả lại thửa 49, tờ bản đồ 61, diện tích 61,3m² cho gia đình ông T, các yêu cầu khởi kiện khác không yêu cầu Tòa xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm, khi được hỏi những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn cũng thừa nhận chỉ yêu cầu Tòa án xem xét 05 vấn đề trên như Đơn kháng cáo đề ngày 04/02/2025 và đã rút yêu cầu khởi kiện đối với các yêu cầu còn lại. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu: Hủy chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H496101 do Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 14/7/2008 mang tên Nguyễn Văn T và văn bản chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/7/2008 giữa người chuyển nhượng là ông T, bà H với người tự nhận là người nhận chuyển nhượng là anh chị C, B và xem xét trách nhiệm quyền và nghĩa vụ của người thực hiện chứng thực (yêu cầu Ủy ban nhân dân phường T bồi thường chi phí cho chủ sở hữu cho việc khắc phục hậu quả và tổn thất vật chất và tinh thần do hành vi thi hành nhiệm vụ, công vụ trái với quy định mang lại); Tuyên văn bản công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B với ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 đối với diện tích đất trên tại văn phòng C1 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; Ông S, bà T2, ông C và bà B phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường cho nguyên đơn những chi phí tổn thất về vật chất và tinh thần theo quy định của pháp luật do những việc làm trái pháp luật; Hủy phần cập nhật biến động liên quan đến việc chuyển nhượng một phần thửa đất (nói trên) vô hiệu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H9496101 cấp ngày 10/10/1995 mang tên Nguyễn Văn T; Yêu cầu giám định viên tham gia giám định chữ viết chữ ký có văn bản giải trình về kết luận giám định theo trưng cầu giám định của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H496101 đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 231, tờ bản đồ 5P, diện tích 288m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh ngày 10/10/1995 là có căn cứ.

[1.5] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do hoặc có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn thì thấy:

[2.1] Diện tích 61,5m² đất ông T, bà H lập Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/8/2003 cho ông S, bà T2 thuộc Thửa đất số 407, tờ bản đồ 5P, diện tích 216m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đã được UBND huyện T (cũ) cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Văn T vào ngày 10/10/1995. Ông T và bà H thừa nhận có chuyển nhượng một phần thửa đất này cho ông S, bà T2 ngày 04/8/2003. Việc chuyển nhượng này được lập thành văn bản là phù hợp với Điều 707, Điều 708 Bộ luật Dân sự năm 1995. Tuy ông S, bà T2 chưa làm các thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ, nhưng do không có nhu cầu sử dụng nên ông S, bà T2 chuyển nhượng lại diện tích đất này cho ông C, bà B. Theo như lời khai của ông S, bà T2 và ông C, bà B thì có trao đổi với ông T, bà H và ông T, bà H đã đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông C, bà B vào ngày 15/7/2008 ; Hợp đồng được chứng thực bởi UBND xã T, thị xã T (nay là UBND phường T, thành phố T). Ông T, bà H không thừa nhận chữ ký trong hợp đồng ngày 15/7/2008, nhưng tại Kết luận giám định số 233/KL-KTHS ngày 12/01/2023 của Phòng K1 công an tỉnh B đã kết luận: “Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Văn T trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra. Chữ ký, chữ viết đứng tên Nguyễn Thị H trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị H trên các tài liệu mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra”, là phù hợp với lời khai của ông S, bà T2 và ông C, bà B cũng như thực tế có việc ông T, bà H có lập Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/8/2003 cho ông S, bà T2. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị L cũng đã thừa nhận chữ ký trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T, bà H với ông C, bà B ngày 15/7/2008 là của ông T, bà H. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông T cho rằng không ký vào hợp đồng này là không có cơ sở và khẳng định ông T, bà H có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông C, bà B là có căn cứ.

[2.2]. Do có căn cứ khẳng định ông T, bà H có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông C, bà B ngày 15/7/2008; ông T, bà H thừa nhận có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông S, bà T2 ngày 04/8/2003; trên cơ sở lời khai của ông S, bà T2 và ông C, bà B về việc có trao đổi với ông T, bà H để ông T, bà H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông C, bà B thì có căn cứ xác định các bên thống nhất thay thế Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chuyển nhượng giữa ông T, bà H với ông S, bà T2 ngày 04/8/2003 bằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T, bà H với ông C, bà B ngày 15/7/2008. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa người chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H với người nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T2 được lập ngày 04/8/2003 đối với một phần thửa đất số 231, tờ bản đồ 5P, diện tích 61,5m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh và giải quyết hậu quả của hợp đồng để buộc ông S, bà T2 phải trả lại cho ông T thửa đất đã nhận chuyển nhượng theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

[2.3] Ông T cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2008 giữa ông bà T, H với ông C, bà B có nhiều sai sót như không thể hiện ngày, tại đâu, sai diện tích chuyển nhượng, không hợp pháp về chứng thực, không đủ diện tích tối thiểu để tách thửa theo quy định của UBND tỉnh B... để yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 192561 ngày 07/8/2008 UBND huyện T cấp cho ông C, bà B. Như phân tích tại [2.1] và [2.2] thì có cơ sở khẳng định ông T, bà H đã tự nguyện và đồng ý ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2008 với ông C, bà B. Tuy hợp đồng còn có một số sai sót nhưng sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng, ông C, bà B đã nhận đất, làm thủ tục kê khai đăng ký và đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AN 192561 ngày 07/8/2008 đối với thửa đất số 634, tờ bản đồ 5P, diện tích 63m² địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Ninh đến nay không ai có ý kiến gì; phù hợp với lời khai của các bên và thực tế có việc ông T, bà H chuyển nhượng quyền sử dụng đất như Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/8/2003 giữa ông T, bà H với ông S, bà T2; UBND huyện T cũng đã khẳng định việc cấp GCNQSDĐ cho ông C, bà B đảm bảo đúng quy định pháp luật, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/7/2008 là hợp pháp, từ đó không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà H về việc hủy GCNQSD UBND huyện T cấp cho ông C, bà B là có căn cứ.

[2.4] Sau khi được cấp GCNQSDĐ, không có nhu cầu sử dụng, ông C và bà B đã xác lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên cho ông H2 và bà H3 ngày 04/5/2016 được Văn phòng C1 xác nhận. Sau khi ký hợp đồng, nhận đất của ông C và bà B, ông H2 và bà H3 đã về ở ổn định từ năm 2016 đến nay, làm thủ tục kê khai, đăng ký và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ số CD234044 ngày 25/5/2016 đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ 61 tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh mang tên ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 là đúng quy định của pháp luật. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông C, bà B với ông H2, bà H3 vô hiệu để hủy GCNQSDĐ số CD234044 nêu trên và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc vợ chồng ông H2 trả lại đất cho gia đình ông T là có căn cứ.

Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T (nay là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T) về việc tuyên huỷ Giấy chuyển nhượng quyền sở hữu đất ngày 04/8/2003 ký giữa ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị T2; Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị H với Nguyễn Việt C, Ngô Thị B được UBND xã T chứng thực ngày 15/7/2008 vô hiệu, buộc các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; Tuyên huỷ GCNQSDĐ số AN 192561 do UBND huyện T cấp ngày 07/8/2008 và GCNQSDĐ số CA839581 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 12/6/2015 (cấp đổi) cho ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B; Tuyên huỷ GCNQSDĐ số CĐ 234044 ngày 25/5/2016 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp cho ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3; Tuyên buộc ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 (người đang quản lý, sử dụng) trả lại thửa 49, tờ bản đồ 61, diện tích 61,3m² cho gia đình ông T và đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu: Hủy chứng thực giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H496101 do Ủy ban nhân dân xã T xác nhận ngày 14/7/2008 mang tên Nguyễn Văn T và văn bản chứng thực Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 14/7/2008 giữa người chuyển nhượng là ông bà T, H với người tự nhận là người nhận chuyển nhượng là ông C, bà B và xem xét trách nhiệm quyền và nghĩa vụ của người thực hiện chứng thực (yêu cầu Ủy ban nhân dân phường T bồi thường chi phí cho chủ sở hữu cho việc khắc phục hậu quả và tổn thất vật chất và tinh thần do hành vi thi hành nhiệm vụ, công vụ trái với quy định mang lại); Tuyên văn bản công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Việt C, bà Ngô Thị B với ông Trần Văn H2, bà Nguyễn Thị H3 đối với diện tích đất trên tại văn phòng C1 vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; Ông S, bà T2, ông C và bà B phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả và bồi thường cho nguyên đơn những chi phí tổn thất về vật chất và tinh thần theo quy định của pháp luật do những việc làm trái pháp luật; Hủy phần cập nhật biến động liên quan đến việc chuyển nhượng một phần thửa đất (nói trên) vô hiệu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H9496101 cấp ngày 10/10/1995 mang tên Nguyễn Văn T; Yêu cầu giám định viên tham gia giám định chữ viết chữ ký có văn bản giải trình về kết luận giám định theo trưng cầu giám định của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn; Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H496101 đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp cho ông Nguyễn Văn T đối với thửa đất số 231, tờ bản đồ 5P, diện tích 288m² tại khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh ngày 10/10/1995 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn; đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận, những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Ngọc K và Nguyễn Thị L; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 12/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Ngọc K và Nguyễn Thị L mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà H đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000206 ngày 08/7/2024, anh K đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000207 ngày 08/7/2024 và chị L đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000208 ngày 08/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh. Xác nhận bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Ngọc K và Nguyễn Thị L đã thi hành xong khoản tiền nộp án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhân

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKS ND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ)
  • - Lưu HSVA, Phòng HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Phan Nam

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Điều Văn Hằng

Phạm Văn Lợi

Nguyễn Phan Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2025/DS-PT ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 45/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger