|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/HS - PT. Ngày 09 - 12 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Hồng Thắng.
- Các Thẩm phán: Ông Triệu Ngọc Thức và ông Bàn Văn Thế.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 68/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K, Nguyễn Đức T2 và Triệu Quốc H do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Đặng Văn T, sinh năm 1992, tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn A, xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; con ông: Đặng Văn H1 (đã chết) và bà Trần Thị M; có Vợ: Tương Thị L và có 03 con;
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/5/2014, bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (QĐ xử phạt số: 175/QĐ-XPHC);
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Hà Thị T1, sinh năm 1989, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn V, xã C, huyện Y, Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nữ; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; con ông: Hà Văn N (đã chết) và bà Lê Thị O; chồng: La Đình P và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
3. Đặng Văn K, sinh năm 1984, tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã C, huyện Y, Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; con ông: Đặng Văn D và bà: Lý Thị M1 (đã chết); vợ: Lý Thị H2 và có 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Đức T2, sinh năm 1987, tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện L, Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; con ông: Nguyễn Đức T3 và bà: Nguyễn Thị V; có vợ: Đỗ Thị N1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 18/01/2013, bị Ủy ban nhân dân quận H, thành phố Hà Nội ra Quyết định đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 16/01/2015, Nguyễn Đức T2 hoàn thành chương trình cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
5. Triệu Quốc H, sinh năm 1975, tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;
Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn C, xã C, huyện Y, Tuyên Quang;nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/12; con ông: Triệu Thanh V1 (đã chết) và bà: Hứa Thị M2 (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1982 và có 02 con; tiền án: Không;
Tiền sự: Ngày 03/5/2024, bị Phòng quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ súng săn trái phép, hình thức: phạt tiền. H đã chấp hành nộp phạt ngày 09/5/2024 (Quyết định xử phạt số: 3011/QĐ-XPVPHC).
Nhân thân: Ngày 11/3/2011, bị Công an huyện Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc (Quyết định xử phạt số: 104/QĐ-XPHC).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T2: ông Nguyễn Văn Q- Luật sư văn phòng luật sư Phan T4 và công sự thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 03/6/2024, Đặng Văn K, Triệu Quốc H, Trương Văn M3; Trương Văn Q1; Trần Văn C ngồi uống nước tại quán của Trương Văn V2 ở thôn T, xã C, huyện Y.
Trong lúc ngồi uống nước, có người rủ lên đồi đánh bạc (không xác định được ai rủ), mọi người đồng ý. V2 chuẩn bị 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 01 con dao, 01 mảnh tre, 01 chiếc chiếu nhựa cho vào 01 bao tải dứa màu trắng rồi cùng nhau đi lên đồi cây bồ đề của gia đình anh Trương Văn M4 cách nhà V2 khoảng 01 km để đánh bạc. Khi đến nơi, V2 trải chiếu xuống đất, lấy bát, đĩa, mảnh tre và con dao ra đặt xuống chiếu, C lấy dao cắt 04 quân vị từ mảnh tre. Sau đó, M3 xóc cái cho C, Q1, K, H đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, đoán chẵn lẻ được thua bằng tiền. V2, N3 đứng xem, không trực tiếp tham gia đánh bạc.
Khoảng 10 phút sau, K gọi điện thoại rủ Lê Trung Đ đến đánh bạc. Khi Đ nghe điện thoại, đang ngồi uống nước cùng Nguyễn Đức T2; Đặng Thị L2; Đặng Văn T. Nghe Đ nói chuyện cùng bạn và biết rủ đi đánh bạc nên L2, T2, T bảo Đ cho đi cùng. Khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ, L2, T2, Trụ đến cùng tham gia đánh bạc. Khoảng 30 phút sau có thêm Hà Thị Thu trú tại thôn V, Hoàng Thị Gia T5 tại thôn Đ, Trần Văn O1, Trần Thị N2 và Đặng Thị D1 đến cùng tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc, Hà Thị Thu T6 hết tiền nên hỏi vay Vi Thị N3 1.000.000 đồng để đánh bạc, N3 đồng ý và đưa cho T1 1.000.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Trương Văn M3 không xóc cái nữa mà chuyển lại cho Trần Văn C tiếp tục xóc cái cho mọi người đánh bạc. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì nghỉ và đi về. Sau khi nghỉ, V2 thu dọn công cụ đánh bạc mang về, chiếc chiếu nhựa do cũ, rách nên V2 bỏ lại trên đồi, còn T1 trả cho N3 số tiền 1.000.000 đồng trước đó vay để đánh bạc. Ngày 03/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tiếp nhận nguồn tin về tội phạm của công dân xã C về việc một nhóm đối tượng tụ tập đánh bạc tại thôn T, xã C gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Ngày 05/6/2024, Nguyễn Đức T2, Đặng Thị L2, Lê Trung Đ; Hà Thị T1; Triệu Quốc H; Vi Thị N3 đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc và giúp sức đánh bạc nêu trên.
Cơ quan điều tra đã triệu tập: Trương Văn M3, Trương Văn Q1, Trần Văn C, Đặng Văn K, Trần Văn O1, Đặng Thị D1, Hoàng Thị G, Trương Văn V2, Trần Thị N2, Đặng Văn T. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi đánh bạc ngày 03/6/2024 tại đồi cây thuộc thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Quá trình điều tra xác định số tiền và vai trò các bị cáo đánh bạc như sau:
- Đặng Văn T sử dụng 2.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Hà Thị T1 sử dụng 1.500.000 đồng (trong đó vay N3 1.000.000 đồng) vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, hoà tiền. Khi nghỉ đã trả cho N3 1.000.000 đồng. Còn 500.000 đồng đã nộp cho Cơ quan điều tra.
- Đặng Văn K sử dụng 1.300.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Trần Văn C sử dụng 1.200.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên thì C thay M3 xóc cái cho các đối tượng đánh bạc.
- Nguyễn Đức T2 sử dụng 1.000.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thắng 6.000.000 đồng, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra toàn bộ số tiền đánh bạc 7.000.000 đồng.
- Trần Văn O1 sử dụng 900.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Lê Trung Đ sử dụng 800.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thắng 3.500.000 đồng, đã giao nộp cho Cơ quan điều tra toàn bộ số tiền đánh bạc 4.300.000 đồng.
- Đặng Thị L2 sử dụng 800.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Trương Văn Q1 sử dụng 350.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Triệu Quốc H sử dụng 300.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Hoàng Thị G sử dụng 200.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Đặng Thị D1 sử dụng 150.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Trần Thị N2 sử dụng 150.000 đồng vào mục đích đánh bạc, đánh nhiều ván, thua hết số tiền trên.
- Vi Thị N3 là người cho Hà Thị T1 vay 1.000.000 đồng để T1 tham gia đánh bạc. Sau khi nghỉ, T1 đã trả 1.000.000 đồng cho N3, số tiền này, N3 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra.
- Trương Văn M3 là người xóc cái cho các đối tượng đánh bạc.
- Trương Văn V2 chuẩn bị công cụ cho các đối tượng đánh bạc.
Tổng số tiền các bị cáo khai sử dụng vào mục đích đánh bạc là 10.650.000 đồng (Mười triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Cơ quan điều tra đã thu giữ tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc và tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra là 12.800.000 đồng, số tiền chênh lệch 2.150.000 đồng không xác định được là của bị cáo nào nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên bố:Đặng Văn T, Hà Thị T1,Đặng Văn K, Nguyễn Đức T2, Triệu Quốc Hphạm tội Đánh bạc.
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 10 (mười) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
- + Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 09 (chín) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Hà Thị T1 10 (mười) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án. Khấu trừ cho bị cáo thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 09 (chín) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án. Khấu trừ cho bị cáo thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024.
- + Xử phạt bị cáo Triệu Quốc H 06 (sáu) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại giam chấp hành án. Khấu trừ cho bị cáo thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với 11 bị cáo còn lại, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 18, 19 và 23 tháng 9 năm 2024 bị cáo Đặng Văn K có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo.
Ngày 18, 24 tháng 9 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đức T2 có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, bị cáo Hà Thị T1 có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, bị cáo Triệu Quốc H có đơn kháng cáo xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, bị cáo Đặng Văn T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm và tranh luận:
- - Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo của các bị cáo hợp lệ trong hạn luật định, thủ tục giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đúng trình tự tố tụng.
- - Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt các bị cáo đều về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K, Nguyễn Đức T2, Triệu Quốc H đều xuất trình được xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.
- Đối với bị cáo Triệu Quốc H do đã có tiền sự, nên kháng cáo của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của kháng cáo của bị cáo Triệu Quốc H, giữ nguyên phần hình phạt đối với bị cáo Triệu Quốc H tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đối với các bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K, Nguyễn Đức T2 đều có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K và Nguyễn Đức T2. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt như sau:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đặng Văn T và Hà Thị T1 mỗi bị cáo 10 (mười) tháng tù, cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thử thách 01 năm 08 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Xử phạt bị cáo Đặng Văn K và Nguyễn Đức T2 mỗi bị cáo 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thử thách 01 năm 06 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Giao các bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã nơi các bị cáo cư trú để giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
- Bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K và Nguyễn Đức T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Triệu Quốc H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Ghi nhận bị cáo Đặng Văn T đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T2 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo T2 được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 17 giờ ngày 03/6/2024, tại đồi cây bồ đề của gia đình anh Trương Văn M4, thuộc thôn T, xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K, Trần Văn C, Nguyễn Đức T2, Trần Văn O1, Lê Trung Đ, Đặng Thị L2, Trương Văn Q1, Triệu Quốc H, Hoàng Thị G, Đặng Thị D1, Trần Thị N2 đã có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền. Tổng số tiền các bị cáo khai sử dụng vào mục đích đánh bạc được xác định là 10.650.000 đồng, trong đó: Đặng Văn T sử dụng 2.000.000 đồng; Hà Thị T1 sử dụng 1.500.000 đồng; Đặng Văn K sử dụng 1.300.000 đồng; Trần Văn C sử dụng 1.200.000 đồng và xóc cái; Nguyễn Đức T2 sử dụng 1.000.000 đồng; Trần Văn O1 sử dụng 900.000 đồng; Lê Trung Đ sử dụng 800.000 đồng; Đặng Thị L2 sử dụng 800.000 đồng; Trương Văn Q1 sử dụng 350.000 đồng; Triệu Quốc H sử dụng 300.000 đồng; Hoàng Thị G sử dụng 200.000 đồng; Đặng Thị D1 sử dụng 150.000 đồng; Trần Thị N2 sử dụng 150.000 đồng. Các bị cáo thực hiện hành vi giúp sức đánh bạc là Trương Văn V2 chuẩn bị dụng cụ đánh bạc; Vi Thị N3 cho Hà Thị T1 vay 1.000.000 đồng để đánh bạc và Trương Văn M3 là người xóc cái cho các bị cáo khác đánh bạc. Cơ quan điều tra đã thu giữ 12.800.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc, chênh lệch là 2.150.000 đồng không xác định được là của bị cáo nào nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm chung.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo thấy rằng, các bị cáo không kêu oan mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Văn T xuất trình giấy xác nhận bị cáo sống ở vùng đặc biệt khó khăn, bị cáo cũng xuất trình biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo Hà Thị T1 và Đặng Văn K có đơn xin cải tạo tại địa phương có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo T1 hiện đang mắc bệnh mãn tính; bị cáo Nguyễn Đức T2 có bố có thời gian tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, bị cáo T2 cũng có xác nhận của chính quyền địa phương về việc hiện nay vợ chồng đã ly thân, bị cáo đang nuôi hai con nhỏ và chăm sóc bố mẹ. Bị cáo Triệu Quốc H xuất trình Giấy xác nhận của Bệnh viện Đ1, xác nhận bị cáo được kê đơn điều trị, cấp sổ theo dõi bệnh mạn tính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng, Bản án của Toà án nhân dân huyện Yên Sơn đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình, các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, lần phạm tội này thuộc trường hợp lần đầu và ít nghiêm trọng. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo xuất trình căn cứ mới cho nội dung kháng cáo, do đó cho bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K và Nguyễn Đức T2 được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo T2 cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có ích cho xã hội.
Đối với bị cáo Triệu Quốc H có 01 tiền sự, ngày 03/5/2024, bị Phòng quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ súng săn trái phép bằng hình thức phạt tiền do đó kháng cáo xin hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo không có căn cứ để chấp nhận
[4] Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không buộc bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K và Nguyễn Đức T2 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Triệu Quốc H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Ghi nhận bị cáo Đặng Văn T đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của kháng cáo của bị cáo Triệu Quốc H, giữ nguyên phần hình phạt đối với bị cáo Triệu Quốc H tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Quốc H 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Khấu trừ cho bị cáo thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 05/6/2024 đến ngày 14/6/2024.
- - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K và Nguyễn Đức T2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2024/HS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt như sau:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 10 (mười) tháng tù, cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thử thách 01 năm 08 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (09/12/2024).
- Giao bị cáo Đặng Văn T cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- + Xử phạt bị cáo Hà Thị T1 10 (mười) tháng tù, cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thử thách 01 năm 08 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. (09/12/2024).
- + Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thử thách 01 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. (09/12/2024).
- Giao bị cáo Hà Thị T1 và Đặng Văn K cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc, thử thách 01 năm 06 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. (ngày 09/12/2024).
- Giao bị cáo Nguyễn Đức T2 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách nếu các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
- - Về án phí: Bị cáo Đặng Văn T, Hà Thị T1, Đặng Văn K và Nguyễn Đức T2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Triệu Quốc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Ghi nhận bị cáo Đặng Văn T đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0000762 ngày 26/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (09/12/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ma Hồng Thắng |
Bản án số 45/2024/HS - PT ngày 09/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)
- Số bản án: 45/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của các bc.
