Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HOÀI ÂN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 29 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quý Hòa;

Ông Trần Xuân Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Hồng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Phan Chí L; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13 tháng 01 năm 1990, tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Minh H, sinh năm 1957, Con Nguyễn Thị T, sinh năm 1960; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H từ ngày 05/02/2024, có mặt.
  2. Họ và tên: Võ Văn Q; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 25 tháng 9 năm 1989, tại Bình Định; Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn C (đã chết), Con Nguyễn Thị M, sinh năm 1946; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà giữ Công an huyện H từ ngày 05/02/2024, có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1982;

Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.

2. Ông Phan Minh H, sinh năm 1957;

Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.

3. Ông Nguyễn Chiến T1, sinh năm 1993;

Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.

4. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; có mặt.

5. Bà Phan Thị T3, sinh năm 1988;

Nơi thường trú: Thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định.

Nơi ở hiện tại: Tổ A, KP T, phường Đ, Tp., tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/02/2024, Phan Chí L, Võ Văn Q và Nguyễn Đình S đang ở tại nhà thờ cúng của gia đình ông Phan Minh H - là cha ruột của Phan Chí L tại thôn P, xã Â, huyện H thì L hỏi S: “Cho con mượn chiếc nhẫn con cầm trả nợ chứ người ta đòi dữ quá, sáng sớm con trả lại”. S trả lời: “Không được”. Lúc này Q nói với S: “Cứ đưa nó đi, mai nó có tiền nó lấy ra cho anh chứ nó mà lo cái gì”. Nghe Q nói vậy thì S tháo chiếc nhẫn trên tay đưa cho Q cầm (vì lúc này Q ngồi cạnh S) và S nói với L: “Đây, tao đưa cho mầy mượn, làm sao sáng mai có trả lại tao chứ thím mầy nó nhăn tao”. Q cầm chiếc nhẫn và nói với L: “Đi cầm chiếc nhẫn hai triệu, lấy bịch ba anh em tao chơi chờ bạn về” (tức là Q nói với L cầm chiếc nhẫn hai triệu, lấy 300.000 đồng mua ma túy đá để Q và S sử dụng chờ Lãm đi công việc về) thì L đồng ý. S nghe Q nói với L nhưng nằm trên giường không nói gì. Sau đó, Q điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60AE-056.50 chở L đến quán "039” của Nguyễn Thị T2 ở cùng địa phương (là họ hàng với Q) cầm chiếc nhẫn được số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng rồi đưa toàn bộ số tiền này cho L. Lúc này, L hỏi Q: “Mầy điện cho M1 Lượng chưa”, Q nói “Bạn điện đi”. Nghe vậy, L sử dụng số thuê bao “0867839485” của L gọi vào số thuê bao "0985394525” của “Mốc Lượng” (tức Nguyễn Chiến T1; sinh năm 1993; ở P, Ân Tường T4, H, Bình Định) hỏi T1: “Ở đâu đấy, lấy cho ba xị” (tức là L nói với T1 bán cho L 300.000 đồng ma túy đá), T1 trả lời: “Đang ở nhà, chạy xuống đây”. Nói xong Q chở L đến trước nhà T1 và gọi điện thoại nhưng T1 bấm máy bận không nghe. L đi bộ vào bên hông trái nhà của T1 thì có một người (không xác định được ai) đứng trong nhà mở hé cửa, thò tay qua cửa đưa cho L 01 túi ni lông đựng ma túy đá, L lấy 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đưa cho người này rồi cầm túi ni lông đựng ma tuý đá đi ra vị trí Q đang đứng, L điều khiển xe mô tô chở Q về đến đầu đường vào nhà thờ cúng của gia đình L, đưa túi ni lông đựng ma tuý đá cho Q cầm đi vào nhà. Lúc này, Q hỏi L: “Bộ đồ nghề đâu bạn” (tức là Q hỏi Lãm vị trí để dụng cụ sử dụng ma túy), L nói: “Bạn trèo lên cái giường rồi đưa tay lên lấy là có”, nói xong L điều khiển xe mô tô đi đến nhà Trang Thị Lệ H1 (sinh năm 1997, ở P, Ân Tường T4, H - là bạn gái của L). Q đi vào trong phòng buồng nơi S đang nằm nghỉ, đưa tay lên tấm bạt trên trần lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa nhãn hiệu STING trên nắp chai đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút bằng nhựa, một lỗ gắn nỏ thủy tinh của L để sẵn trước đó. Q để bộ dụng cụ xuống nền nhà, lấy túi ma túy đá đổ một phần ma tuý vào trong nỏ thủy tinh, phần còn lại Q hàn kín bỏ vào túi quần, lấy hộp quẹt ga của L để lại trước đó hơ nóng nỏ thủy tinh rồi hỏi S: “Anh chơi không?” S trả lời: “Chơi thì chơi” rồi cùng Q ngồi dưới nền nhà trong phòng buồng lần lượt sử dụng ma túy. Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 05/02/2024, L về nhà và đi vào phòng buồng hỏi: “Còn đồ không?” (tức là L hỏi Q và S còn ma tuý không), Q lấy từ trong túi quần ra túi ni lông đựng phần ma tuý đá còn lại đưa cho L và nói: “Đây, bịch đồ còn đây”. Lãm cầm túi ma túy xé một đầu và đổ hết số ma túy đá còn lại vào nỏ thủy tinh, còn lại túi ni lông L dùng hộp quẹt đốt cháy. Sau đó L dùng hộp quẹt đốt nóng bầu nỏ thuỷ tinh và sử dụng ma tuý, Q và S tiếp tục sử dụng ma túy cùng với L thì lực lượng Công an xã Â tiến hành kiểm tra phát hiện bắt quả tang, tạm giữ, niêm phong tang vật để xử lý theo quy định của pháp luật, lúc này khoảng 03 giờ 00 phút ngày 05/02/2024.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 05/02/2023 kết luận: Phan Chí L, Võ Văn Q, Nguyễn Đình Sơn dương T5 với ma túy loại Methamphetamine.

Tang vật tạm giữ: 01 (Một) chai nhựa trong suốt, trên chai có chữ “Sting", có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 (Hai) lỗ trống tròn, 01 (Một) lỗ được gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 (Một) lỗ được gắn ống thủy tinh trong suốt dạng cong (nỏ), một đầu bầu tròn bên trong có dính chất rắn màu nâu trắng (nỏ đã được niêm phong); 01 (Một) bật lửa màu đồng đã qua sử dụng; 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A33 5G, màu đen, số IMEI 1: 351494693567828, số IMEI 2: 351494693567821, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen, số IMEI: 353095105919016, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu: DETECH, màu sơn: Đen- Xanh, BKS: 60AE-056.50, số máy: VDEJQ139FMB-301366, số khung: RPECCBIUMGA-301366, xe mô tô đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (Một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, màu sơn: Đen - đỏ, BKS: 77K1-217.35, số máy: JF63E1249041, số khung: RLHJF6309FZ695276, xe mô tô đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng - đen, số IMEI: 351546006700684, bên trong có gắn một sim thuê bao số “0985394525", điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.

Ngày 30/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành xử lý vật chứng: Trả lại 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen; 01 (Một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, màu sơn: Đen - đỏ, BKS: 77K1-217.35 cho chủ sở hữu tài sản hợp pháp.

Tại Kết luận giám định số: 97/KL-KTHS ngày 07/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Chất rắn màu nâu trắng dính bên trong 01 (một) đầu có bầu tròn của 01 (một) ống thủy tinh trong suốt dạng cong (ký hiệu A) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0554 gam là (loại) Methamphetamine.

Bản Cáo trạng số 38/CT-VKSHA ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định quyết định truy tố đối với các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra, các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q đã thừa nhận phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tại phiên tòa, các bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như Cáotrạng của Viện kiểm sát. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Chí L có mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 05/02/2024.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Văn Q có mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 05/02/2024.
  • Về xử lý vật chứng:
    • + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) vỏ bao bì đựng mẫu vật: 01 (Một) nỏ thủy tinh và 0.0295 gam mẫu A còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: Dấu tròn “Phòng K1 - Công an tỉnh B”, chữ ký bên giao và bên nhận); 01 (Một) chai nhựa trong suốt, trên chai có chữ, nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 (Hai) lỗ trống tròn, 01 (Một) lỗ được gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 (Một) lỗ trống; 01 (Một) bật lửa màu đồng đã qua sử dụng.
    • + Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị tịch thu sung Ngânnhànước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A33 5G, màu đen.

Trả lại cho Phan Minh H 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu DETECH, màu sơn: Đen- Xanh, BKS: 60AE-056.50.

Trả lại cho Nguyễn Chiến T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng - đen, gắn sim thuê bao số “0985394525”.

- Về trách nhiệm dân sự: Không.

Các bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, rất hối hận, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của C1 tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Phan Thị T3 vắng mặt tại phiên toà, nhưng trong quá trình điều tra đã có đấy đủ lời khai. Xét thấy sự vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Tại phiên tòa, các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của những người tham gia tố tụng, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 04/02/2024, tại nhà Phan Minh H (cha ruột của Phan Chí L) ở thôn P, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định thì Phan Chí L, Võ Văn Q đã thống nhất đi cầm cố chiếc nhẫn để trích tiền mua ma túy và cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với Nguyễn Đình S. Do đó, hành vi của Phan Chí L, Võ Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4]. Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của nhàvề việc mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, vì ma túy là một chất gây nghiện độc hại, phá hủy trực tiếp hệ thần kinh, ảnh hưởng sức khỏe, làm cho người sử dụng phụ thuộc vào ma túy, dần dần họ không còn khả năng lao động và sinh hoạt bình thường. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người dùng bị ảo giác, hoang tưởng, không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến hành vi nguy hiểm khác cho bản thân người đó và cho xã hội.

Trong vụ án, bị cáo Q là người nảy sinh ý định sử dụng ma túy và gợi ý L sau khi mượn chiếc nhẫn của Nguyễn Đình S cầm cố lấy tiền trả nợ thì trích 300.000 đồng ra mua ma túy cho Q và S sử dụng trước, chờ khi nào L về thì sử dụng sau. Dù Quang, L không thừa nhận nhưng quá trình lấy lời khai, đối chất và xét hỏi tại phiên tòa có căn cứ xác định bị cáo Phan Chí L là người chủ động trong việc tổ chức sử dụng ma túy. Cả hai sau đó đã cùng đi cầm cố chiếc nhẫn và mua ma túy tại nhà của Nguyễn Chiến T1.

Việc Phan Chí L chuẩn bị sẵn bộ dụng cụ từ trước, cất giấu trên tấm bạt nhựa trong buồng và chọn nhà ông H hiện chỉ để làm nơi thờ cúng, không có ai lui tới để tránh bị phát hiện cho thấy bị cáo đã từng sử dụng ma tuý trước đây.

Các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q có sự phối hợp trong việc cùng nhau tổ chức sử dụng chất ma túy nhưng hành vi của các bị cáo chỉ bộc phát nhất thời và không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể trước khi phạm tội nên khi quyết định hình phạt, các bị cáo cùng chịu trách nhiệm với vai trò ngang nhau.

Đối với Nguyễn Đình S chỉ khai bản thân có nghe L và Q bàn bạc việc trích tiền cầm chiếc nhẫn ra để mua “hàng” nhưng không hiểu “hàng” là gì; rồi S được Q rủ cùng sử dụng ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất giữa các bị cáo với Nguyễn Đình S. Ngoài lời khai của L và Q thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh S hiểu và đồng ý cho L cầm cố chiếc nhẫn, trích tiền mua ma túy về sử dụng nên không đủ căn cứ để xử lý về hình sự đối với Nguyễn Đình S.

Các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q là đồng phạm trong vụ án, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng các bị cáo bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật vẫn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine rồi rủ Nguyễn Đình S cùng tham gia. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải xử lý nghiêm hành vi của các bị cáo bằng biện pháp cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5.2]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Phan Chí L, Võ Văn Q để giảm nhẹ một phần về hình phạt.

[6]. Về xử lý vật chứng:

[6.1]. Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trả lại 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, màu đen; 01 (Một) xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu: HONDA, màu sơn: Đen - đỏ, BKS: 77K1-217.35 cho chủ sở hữu tài sản hợp pháp là phù hợp với quy định pháp luật.

[6.2]. Đối với 01 (Một) vỏ bao bì đựng mẫu vật: 01 (Một) nỏ thủy tinh và 0.0295 gam mẫu A còn lại sau giám định, đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: Dấu tròn “Phòng K1 - Công an tỉnh B”, (chữ ký bên giao và bên nhận) là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6.3]. Đối với 01 (Một) chai nhựa trong suốt, trên chai có chữ, có nắp màu xanh, trên nắp có đục 02 (Hai) lỗ trống tròn, 01 (Một) lỗ được gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 (Một) lỗ trống; 01 (Một) bật lửa màu đồng đã qua sử dụng là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[6.4]. Đối với 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A33 5G, màu đen là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi mua ma túy, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung Ngânnhànước.

[6.5]. Đối với 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu: DETECH, màu sơn: Đen- Xanh, BKS: 60AE-056.50 là phương tiện mà L và Q sử dụng để đi mua ma túy vào đêm ngày 04/02/2024, rạng sáng ngày 05/02/2024, qua điêu tra xác định: Chiếc xe có đặc điểm nêu trên là của Phan Thị T3 (con gái Phan Minh H) mua từ một người đàn ông không rõ lai lịch ở phường L, TP., TP. vào năm 2018. Đến năm 2024, bà T3 giao lại cho ông H quản lý, sử dụng. Đêm và rạng sáng ngày xảy ra sự việc thì ông H không biết L sử dụng xe mô tô này để mua ma túy. Quá trình xác minh, xác định: Xe mô tô trên của Võ Thị Kim N (sinh năm 2001 - nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện X, tỉnh Đồng Nai) đứng tên chủ sở hữu. Nguyên khai vào năm 2018, khi để xe ở nhà trọ tại phường L, TP., tỉnh Đồng Nai thì bị kẻ gian trộm cắp mất nên N có đến trình báo tại Công an phường L. Kết quả xác minh của Cơ quan CSĐT Công an T6, tỉnh Đồng Nai thì năm 2018, Công an phường L, TP., tỉnh Đồng Nai không nhận được báo cáo nào của công dân về việc bị mất tài sản là chiếc xe mô tô có thông tin như trên. Do đó, không có căn cứ trao trả lại cho Võ Thị Kim N. Vì vậy, HĐXX trả lại chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu: DETECH, màu sơn: Đen- Xanh, BKS: 60AE-056.50 cho ông Phan Minh H.

[6.6]. Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng - đen của Nguyễn Chiến T1, quá trình điều tra xác định: Nguyễn Chiến T1 là người duy nhất sử dụng điện thoại gắn sim thuê bao số “0985394525". Tuy nhiên, T1 không thừa nhận có nhận cuộc gọi vào thời điểm trên từ Phan Chí L. T1 cũng không thừa nhận mình có mặt tại địa phương thời điểm đó. Ngoài lời khai của các bị cáo thì không có chứng cứ nào khác chứng minh Nguyễn Chiến T1 đã có hành vi mua bán ma túy nên HĐXX trả lại chiếc điện thoại có đặc điểm nêu trên cho Nguyễn Chiến T1.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Không.

[8]. Các vấn đề khác:

[8.1]. Đối với Nguyễn Đình S là người đã đưa cho Phan Chí L mượn nhẫn, sau đó L cầm cố chiếc nhẫn và trích ra 300.000 đồng mua ma tuý về sử dụng. Quá trình điều tra, Phan Chí L, Võ Văn Q khai nhận khi mượn nhẫn của S có nói nội dung sẽ trích tiền cầm cố chiếc nhẫn để lấy “hàng” về chơi. Nhưng Phan Chí L khai sau khi S tháo chiếc nhẫn đưa Q thì Q mới đề cập việc trích tiền ra mua ma túy. Nguyễn Đình S chỉ khai nhận khi L hỏi mượn nhẫn của S thì L nói để trả nợ cho người khác nên S mới đồng ý và đưa nhẫn cho L, S không biết việc L lấy nhẫn đã mượn của S để cầm cố và lấy một phần tiền để mua ma tuý về sử dụng. Sau khi đưa nhẫn cho L, S có nghe L và Q nói chuyện riêng với nhau (không nói với S) nội dung cầm chiếc nhẫn rồi trích tiền lấy “hàng” về chơi nhưng S không hiểu lấy “hàng” là lấy cái gì. Sau đó, S được Q rủ sử dụng ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất giữa các bị cáo với Nguyễn Đình S nhưng ngoài lời khai của L, Q không có tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh nhận thức của S biết và đồng ý cho L trích tiền cầm cố chiếc nhẫn để mua ma tuý về sử dụng. Do đó không đủ căn cứ để xác định hành vi của Nguyễn Đình S đồng phạm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên chỉ đến mức xử lý hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

[8.2] Đối với Nguyễn Chiến T1 là người Lãm khai đã liên hệ để mua ma tuý về cùng Q, S sử dụng. Quá trình điều tra, lịch sử cuộc gọi nhà mạng cung cấp thể hiện số thuê bao của T1 có nhận 02 lần cuộc gọi đến từ số thuê bao "0867839 485" của Phan Chí L vào lúc 00 giờ 40 phút và 00 giờ 41 phút ngày 05/02/2024. Qua làm việc, T1 không khai nhận đã bán ma tuý cho Phan Chí L vào đêm ngày 04/02/2024 và rạng sáng ngày 05/02/2024. Lãm cũng không xác định được người giao ma tuý cho L là ai. Ngoài lời khai của Phan Chí L thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không đủ căn cứ xử lý đối với Nguyễn Chiến T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".

[8.3] Đối với Phan Minh H là chủ sở hữu hợp pháp ngôi nhà mà Võ Văn Q, Phan Chí L, Nguyễn Đình S sử dụng trái phép chất ma túy. Ngôi nhà này ông H chỉ sử dụng để thờ cúng, không dùng để ở cũng không sử dụng vào mục đích kinh doanh. Phan Minh H hoàn toàn không biết việc Võ Văn Q, Phan Chí L, Nguyễn Đình S sử dụng trái phép chất ma túy tại ngôi nhà này. Do đó, không xem xét xử lý đối với Phan Minh H.

[8.4]. Đối với Nguyễn Thị T2 là chủ quán "039”, do có mối quan hệ họ hàng với Võ Văn Q nên khi Q đến cầm cố chiếc nhẫn thì T2 đồng ý cầm giúp chứ hoàn toàn không biết mục đích Q cầm cố chiếc nhẫn để lấy tiền mua ma túy về sử dụng nên không xem xét xử lý.

[9]. Về án phí: Các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q;

Căn cứ Điều 105; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q đồng phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt:
    1. Xử phạt bị cáo Phan Chí L 09 (chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/02/2024).
    2. Xử phạt bị cáo Võ Văn Q 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 05/02/2024).
  3. Về xử lý vật chứng:
    1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) vỏ bao bì đựng mẫu vật: 01 (Một) nỏ thủy tinh và 0.0295 gam mẫu A còn lại sau giám định (đựng trong một bì thư dán kín niêm phong: Dấu tròn “Phòng K1 - Công an tỉnh B”, (chữ ký bên giao và bên nhận); 01 (Một) chai nhựa trong suốt, trên chai có chữ, nắp chai bằng nhựa màu xanh, trên nắp có đục 02 (Hai) lỗ, 01 (Một) lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 (Một) lỗ trống; 01 (Một) bật lửa không có nhãn hiệu màu đồng.
    2. Tịch thu sung Ngânnhànước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu S1 Galaxy A33 5G, màu đen.
    3. Trả lại cho Phan Minh H 01 (một) xe mô tô hai bánh nhãn hiệu DETECH, màu sơn: Đen- Xanh, BKS: 60AE-056.50.
    4. Trả lại cho Nguyễn Chiến T1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại bàn phím, màu trắng - đen, gắn sim thuê bao số “0985394525".

    (Đặc điểm vật chứng theo Biêngiao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/10/2024 và ngày 10/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và C2 cục Thi hành án Dân sự huyện H).

  4. Về án phí: Các bị cáo Phan Chí L, Võ Văn Q phải chịu mỗi bị cáo 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được tống đạt theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Hoài Ân + Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Hoài Ân;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Hoài Ân;
  • - Chi cục THADS huyện Hoài Ân;
  • - Bị cáo, người có QLNVLQ;
  • - Lưu HSVA, VPTA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Chí L: Phạt 09 năm tù, Võ Văn Quang: Phạt 08 năm 06 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger