Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Quang Khải
  2. Bà Lò Thị Ánh Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TL-HSST ngày 07 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân Đ; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1982, tại Thái Bình; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T (Đã chết) và con bà: Nguyễn Thị T1; Vợ: Đoàn Thị T2; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/10/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 39 tháng 04 ngày về tội: Cố ý gây thương tích. Đến ngày 22/9/2011 chấp hành xong bản án. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/9/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc V - Sinh năm: 1966; Địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 22/9/2024, Nguyễn Xuân Đ đi bộ một mình từ nhà ở thôn H, xã N, huyện Đ đến thôn P, xã N, huyện Đ mục đích tìm mua Methamphetamine để sử dụng và bán kiếm lời. Tại đây, Đ gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 túi nilon Methamphetamine với giá 2.700.000 đồng. Mua xong, Đ đi về nhà rồi cất giấu túi Methamphetamine vào bao đựng rác trước nhà. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi Đ đang ở nhà thì có Nguyễn Quốc V ở cùng thôn với Đ đến hỏi mua ma túy, Đ lấy 01 viên Methamphetamine bị sứt mẻ ra dùng 01 mảnh nilon màu đen gói lại bán cho V với giá 50.000 đồng rồi cất số tiền vào túi quần bên trái đang mặc, mua xong V mang ra bụi tre ven đường và sử dụng hết. Từ ngày 22/9/2024 đến ngày 26/9/2024, Đ nhiều lần lấy Methamphetamine ra để sử dụng (cụ thể bao nhiêu viên Đảo không nhớ).

Khoảng 08 giờ ngày 26/9/2024, Đ lấy túi Methamphetamine đã cất giấu trong bao đựng rác ra và lấy 13 viên Methamphetamine cho vào 01 túi nilon đen cất giấu vào túi quần bên phải đang mặc, túi Methamphetamine màu xanh còn lại Đ cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc mục đích đi tìm chỗ sử dụng và bán ma túy. Hồi 08 giờ 15 phút cùng ngày, khi Đ đang đi trên đường thuộc thôn H, xã N, huyện Đ thì bị Đội CSĐTTP về ma tuý, Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải Đảo đang mặc 01 túi nilon màu đen bên trong có các viên Methamphetamine và thu tại túi quần bên trái Đảo đang mặc 01 túi nilon màu xanh bên trong có các viên Methamphetamine có tổng khối lượng 8,92 gam và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 26/9/2024 đã xác định: Khối lượng toàn bộ các viên nén màu hồng nghi ma túy tổng hợp có tổng khối lượng là 8,92 gam, gửi toàn bộ giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 1533/KL-KTHS ngày 01/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Nguyễn Xuân Đ có khối lượng 8,92 gam các viên nén màu hồng là chất ma túy: Loại Methamphetamine. H lại đối tượng giám định có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại Bản kết luận giám định số: 1539/KL-KTHS ngày 04/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) có mã số hiệu: BV 21752316 là tiền thật.

Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 03/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ: H lại mẫu sau khi giám định là: 8,8 gam Methamphetamine.

Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 04/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ: H lại mẫu sau khi giám định là: 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) có mã số hiệu: .BV B.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng K Công an tỉnh Đ.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 01/11/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 8,8 gam Methamphetamine; 01 túi nilon màu đen; 01 túi nilon màu xanh miệng có nẹp bấm cố định và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 223/CT-VKSHĐB ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Đ với mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 8,8 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và 01 túi nilon màu đen; 01 túi nilon màu xanh miệng có nẹp bấm cố định kèm theo là vật chứng của vụ án. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 50.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
  • * Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Xuân Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Nguyễn Xuân Đ hoàn toàn thừa nhận vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 26/9/2024 tại khu vực đường thuộc thôn H, xã N, huyện Đ, Nguyễn Xuân Đ đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 8,92 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán. Trước đó khoảng 13 giờ ngày 22/9/2024 tại nhà ở của mình tại thôn H, xã N, huyện Đ, Nguyễn Xuân Đ đã bán trái phép cho Nguyễn Quốc V 01 viên Methamphetamine bị sứt mẻ thu được số tiền 50.000 đồng.
  2. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

... i) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”.

Nguyễn Xuân Đ là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

  1. [2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét hành vi trên của bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy nói chung.
  2. [3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Xuân Đ không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu bởi trước đó bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 39 tháng 04 ngày về tội: Cố ý gây thương tích (Bản án số: 02/2024/HSST ngày 26/10/2010), đến ngày 22/9/2011 chấp hành xong bản án. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma túy từ năm 2023 cho đến nay, vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời nên bị cáo đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 08 năm đến 09 năm tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.

  1. [4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu hủy 8,8 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và 01 túi nilon màu đen; 01 túi nilon màu xanh miệng có nẹp bấm cố định kèm theo là vật chứng của vụ án. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 50.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
  3. [6] Về các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Quốc V là người mua ma túy của bị cáo và đã sử dụng hết. Ngày 08/10/2024 Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 18/QĐ-XPHC xử phạt Nguyễn Quốc V hình thức: Cảnh cáo. Xét việc xử phạt hành chính đối với V của Công an huyện Đ là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
  4. [7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Xuân Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. 1. Về tội danh: Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  2. 2. Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Nguyễn Xuân Đ 08 (T3) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (26/9/2024).
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy 8,8 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định và 01 túi nilon màu đen (đã qua sử dụng); 01 túi nilon màu xanh miệng có nẹp bấm cố định (đã qua sử dụng) kèm theo là vật chứng của vụ án.
    • + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) là tiền do bị cáo phạm tội mà có.
  5. Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/11/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
  6. 4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Xuân Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  7. 5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Nguyễn Xuân Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/11/2024).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát huyện ĐB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên;
  • - HSNV Công an huyện ĐB;
  • - CQĐT Công an huyện ĐB;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án DSHĐB;
  • - Toà án tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger