Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PƯH

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 01-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tiến Sỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thái Thạnh.

Ông Đặng Trung Hiếu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thành Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Niên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Trường L; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1978, tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tường R và bà Kim Thị S (Đều đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại: Anh Huỳnh Đức P, sinh năm 1989 và chị Đoàn Thị D, sinh năm 1990; Cùng địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người làm chứng: Cháu Huỳnh Thị Tâm Đ, sinh năm 2012; Địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người đại diện hợp pháp của cháu Huỳnh Thị Tâm Đ: Anh Huỳnh Đức P, sinh năm 1989 và chị Đoàn Thị D, sinh năm 1990; Cùng địa chỉ: Thôn I, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (Là cha mẹ đẻ của cháu Đ). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ ngày 30/4/2024, Lê Trường L một mình điều khiển xe mô tô không gắn biển kiểm soát; số máy, số khung: 00093228, đi từ nhà đến vườn tiêu thuộc thôn I, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai của gia đình L để tưới tiêu. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, L một mình điều khiển xe mô tô trên đi về nhà, khi đi ngang qua cửa hàng tạp hoá của gia đình anh Huỳnh Đức P và chị Đoàn Thị D thuộc thôn I, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai thì L dừng xe lại, để xe ở ngoài đường đất rồi đi vào trong quán tạp hoá với mục đích để mua thuốc lá và nước ngọt. Tại đây, L gặp cháu Huỳnh Thị Tâm Đ và cháu Huỳnh Chí H là con của anh Huỳnh Đức P đang ở trong quán nên L nói với cháu Đ bán cho L một gói thuốc lá loại “Ngựa đen” và một chai nước ngọt thì được cháu Đ lấy hàng bán cho L. Sau khi trả tiền mua hàng thì cháu Đ đi vào trong nhà, L mở chai nước ra uống và đứng hút thuốc trong sân nhà của anh P thì phát hiện thấy trong sân nhà có một cái bàn gỗ, ở phía trên bàn gỗ để 01 túi vải, loại túi đeo chéo, màu đen, trên mặt túi có dòng chữ “YA TE HU”, đã qua sử dụng nhưng không kéo khoá nên lộ ra ở bên trong đựng tiền. Thấy trước nhà chỉ có cháu H còn nhỏ đang chơi nên L đã lấy túi vải đựng tiền trên rồi giấu vào trong túi quần, sau đó L đi ra nơi để xe mô tô rồi điều khiển xe rời đi. Sau khi đi được một đoạn đến nơi vắng người thì L dừng xe lại, kiểm tra bên trong túi vải trên thì phát hiện có một xấp tiền mặt tổng cộng là 25.915.000 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng); 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, gồm các mắt xích nối lại với nhau, có khối lượng 8,87 gam, kèm theo sợi dây chuyền trên là 01 mặt dây chuyền hình bầu dục bằng kim loại, màu vàng, trên có đính các hạt chất màu đỏ và hạt chất màu trắng, có khối lượng 3,36 gam; 01 đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng, dạng khuyên tròn có gắn hai sợi dây kim loại màu vàng và đính các hạt chất màu trắng, có khối lượng 2,32 gam. Sau đó, L tiếp tục điều khiển chiếc xe mô tô trên đi về nhà của L và cất chiếc túi vải đựng tiền cùng với các trang sức chiếm đoạt được vào trong cốp của chiếc xe mô tô trên mà không cho ai biết.

Ngày 01/5/2024, anh P đã trình báo sự việc đến Cơ quan Công an. Cùng ngày, L đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp lại 01 túi vải, bên trong đựng số tiền 25.915.000 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng); 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng có kèm theo 01 mặt dây chuyền hình bầu dục bằng kim loại, màu vàng và 01 đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng mà L đã trộm cắp được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận:

- Giá trị thực tế của 01 túi vải, loại túi đeo chéo, màu đen, trên mặt túi có dòng chữ “YA TE HU”, đã qua sử dụng là 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).

- Giá trị thực tế của 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, gồm các mắt xích nối lại với nhau, có khối lượng 8,87 gam là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

- Giá trị thực tế của 01 mặt dây chuyền hình bầu dục bằng kim loại, màu vàng, trên có đính các hạt chất màu đỏ và hạt chất có màu trắng, có khối lượng 3,36 gam là 2.700.000 đồng (Hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Giá trị thực tế của 01 đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng, dạng khuyên tròn có gắn hai sợi dây kim loại màu vàng và đính các hạt chất màu trắng, có khối lượng 2,32 gam là 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản cần định giá là 14.350.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án:

- Đối với số tiền 25.915.000 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm mười lăm nghìn đồng); 01 túi vải, loại túi đeo chéo, màu đen, trên mặt túi có dòng chữ “YA TE HU”, đã qua sử dụng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, gồm các mắt xích nối lại với nhau, có khối lượng 8,87 gam; 01 mặt dây chuyền hình bầu dục bằng kim loại, màu vàng, trên có đính các hạt chất màu đỏ và hạt chất có màu trắng, có khối lượng 3,36 gam và 01 đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng, dạng khuyên tròn có gắn hai sợi dây kim loại màu vàng và đính các hạt chất màu trắng, có khối lượng 2,32 gam: Quá trình điều tra xác định những tài sản trên là của vợ chồng anh Huỳnh Đức P và chị Đoàn Thị D. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý giao trả những tài sản trên cho anh P và chị D.

- Đối với chiếc xe mô tô không gắn biển kiểm soát; số máy, số khung: 00093228 mà Lê Trường L sử dụng làm phương tiện đi chuyển sau khi đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 30/4/2024: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản chung của Lê Trường L và vợ là chị Nguyễn Thị T. Việc L sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện di chuyển sau khi đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 30/4/2024 thì chị T hoàn toàn không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý giao trả tài sản trên cho chị T.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau sự việc xảy ra, anh Huỳnh Đức P và chị Đoàn Thị D yêu cầu Lê Trường L bồi thường số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Hiện bị cáo L đã bồi thường đủ số tiền trên cho vợ chồng anh P, chị D. Sau khi nhận tiền anh P, chị D không yêu cầu bị can Lê Trường L phải bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Trường L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Diễn biến tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Lê Trường L và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trường L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trường L mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 36 tháng đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được Cơ quan điều tra xử lý đúng quy định của pháp luật nên đề nghị không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của bị cáo Lê Trường L: Bị cáo đồng ý với nội dung truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người tham gia tố tụng khác thống nhất với nội dung truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại, tố cáo nên các hành vi, quyết định của các cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Trường L thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng, không oan, sai. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định vào ngày 30/4/2024, tại nhà của anh Huỳnh Đức P và chị Đoàn Thị D thuộc thôn I, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, bị cáo Lê Trường L lén lút chiếm đoạt một cái túi bên trong có số tiền mặt 25.915.000 đồng và các tài sản khác có giá trị 14.350.000 đồng của anh P, chị D. Tổng giá trị tài sản bị cáo L đã chiếm đoạt là 40.265.000 đồng.

[3] Hành vi của bị cáo nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của anh Huỳnh Đức P và chị Đoàn Thị D. Tại thời điểm thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do vậy, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội do bột phát chứ không có chủ đích và sự chuẩn bị từ trước. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, tự nguyện giao nộp lại toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt được để trả lại cho bị hại và bồi thường thêm cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, được bị hại làm đơn xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt bị cáo đi chấp hình phạt tù thì cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Để thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng trong chính sách pháp luật hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù có thời hạn, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo hiệu quả cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tại địa phương.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo làm nông, thu nhập thấp, gia đình đông con nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

[7.1] Đối với số tiền 25.915.000 đồng; 01 túi vải, loại túi đeo chéo, màu đen, trên mặt túi có dòng chữ “YA TE HU”, đã qua sử dụng; 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, gồm các mắt xích nối lại với nhau, có khối lượng 8,87 gam; 01 mặt dây chuyền hình bầu dục bằng kim loại, màu vàng, trên có đính các hạt chất màu đỏ và hạt chất có màu trắng, có khối lượng 3,36 gam và 01 đôi bông tai bằng kim loại, màu vàng và đính các hạt chất màu trắng, có khối lượng 2,32 gam: Quá trình điều tra xác định những tài sản trên là của vợ chồng anh Huỳnh Đức P và chị Đoàn Thị D. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý giao trả những tài sản trên cho anh P và chị D.

[7.2] Đối với chiếc xe mô tô không gắn biển kiểm soát; số máy, số khung: 00093228 mà Lê Trường L sử dụng làm phương tiện di chuyển sau khi đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 30/4/2024: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản chung của Lê Trường L và vợ là chị Nguyễn Thị T. Việc L sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện di chuyển sau khi đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh P, chị D vào ngày 30/4/2024. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả tài sản trên cho chị T là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận số tiền bồi thường 10.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Trường L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Trường L 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 01/11/2024).
  3. Giao bị cáo Lê Trường L cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
  4. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
  5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử buộc bị cáo Lê Trường L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.
  6. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Chư Pưh;
  • - Công an huyện Chư Pưh;
  • - CCTHADS huyện Chư Pưh;
  • - BC, BH, NCQLNVLQ;
  • - Lưu: HSVA, VT, CPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 01/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Lê Trường L phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger