Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-PT

Ngày 30/10/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình và ông Đặng Chí Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Đỗ Thị Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 82/2024/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Võ Thị L và đồng phạm, do có kháng cáo của bị hại chị Nguyễn Thị Thu T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

* Các bị cáo:

1. Võ Thị L; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh năm 1985 tại Gia Lai. Nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường N, Thị xã A, tỉnh Gia Lai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...], cấp ngày 16/4/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Làm nông; Cha: Võ Văn Đ, sinh năm 1963; Mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1964; Bị cáo có 05 chị em ruột; Chồng: Nguyễn Thành T1, sinh năm 1981; Bị cáo có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Nguyễn Phạm Nhật T2; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh năm 2003 tại Gia Lai. Nơi cư trú: Tổ B, phường N, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...], cấp ngày 16/4/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Cha: Nguyễn Thành T1, sinh năm 1981; Mẹ: Võ Thị L, sinh năm 1985; Bị cáo có 03 em ruột. Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thu T; sinh năm 1993

Địa chỉ: A N, làng K, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại:

Ông Phạm Ngọc Q; sinh năm 1982; Địa chỉ: 5 T, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Phạm Thảo N; sinh năm 2008; Địa chỉ: Tổ B, phường N, Thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Phạm Thảo N: Ông Nguyễn Thành T1; sinh năm: 1981; Địa chỉ: C T, phường T, Thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Võ Thị L và ông Nguyễn Thành T1 (sinh năm 1981, trú tại số C đường T, phường T, thành phố P) quan hệ vợ chồng, có con chung là Nguyễn Phạm Nhật T2 và Nguyễn Phạm Thảo N (sinh ngày 02/01/2008). Trong quá trình chung sống, L phát hiện ông T1 có tình cảm với bà Nguyễn Thị Thu T (sinh năm 1993, trú tại số A đường N, làng K, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) nên đã nhắc nhở, khuyên ngăn ông T1. Tối ngày 27/10/2023, Lệ kiểm tra điện thoại của ông T1 thì phát hiện ông T1 vẫn nhắn tin nói chuyện với bà T, nên L ghen tức. Khoảng 08 giờ ngày 28/10/2023, L đi bộ từ số nhà C đường T đến tiệm cắt tóc của bà T tại số A đường N. Trên đường đi, L gặp T2 điều khiển xe mô tô biển số 81G1-288.28 chở Như; L kể cho T2 và N biết việc ông T1 và bà T vẫn còn quan hệ tình cảm. Sau đó, L, T2 và N thống nhất cùng đi tìm bà T, để nói chuyện. Khi đến tiệm cắt tóc, T2 đứng ngoài chờ còn L và N vào gặp bà T. Lệ hỏi bà T lý do còn quan hệ tình cảm với ông T1 thì xảy ra cãi nhau to tiếng; bà T hẹn L ra quán cà phê nói chuyện để tránh ồn ào tại tiệm cắt tóc; L đồng ý và ra ngoài đứng chờ cùng Như. Lúc này, T nhắn tin cho ông T1 biết L đến tiệm cắt tóc, rồi gọi xe taxi để bỏ đi, tránh mặt L. Khi xe taxi tới trước tiệm cắt tóc, bà T dẫn theo con nhỏ lên xe nhưng L chạy đến nắm áo kéo lại nói: “Tao chờ từ sáng tới giờ mà mày đi thì tao nói chuyện với ai, mày lừa tao hả”. Bà T hất tay L ra nói: “Đồ điên, tao mà nói chuyện với mày na, đồ vô duyên”. Do bực tức, L nắm tóc đấm 01 cái trúng vào miệng của bà T, rồi L và bà T giằng co nhau; Như tháo mũ bảo hiểm đội trên đầu, ném trúng vai phải của bà T. Lệ và bà T tiếp tục giằng co làm bà T ngã xuống đường gây thương tích trên người thì ông T1 đến ôm L can ngăn. T2 chạy lại dùng chân đạp 01 cái vào chân và 01 cái mặt bà T. Như tiếp tục cầm mũ bảo hiểm đánh 02 cái vào vai của bà T. Lúc này, ông Huỳnh Thanh C (sinh năm 1987, là chồng của bà T) đến tiệm cắt tóc thấy đánh nhau nên chạy vào can ngăn; L, T2 và N bỏ đi; còn bà T được ông C đưa đến Bệnh viện Đ1 cấp cứu. Quá trình điều trị, đến ngày 13/11/2023, bà T bị sảy thai; ngày 14/11/2023, bà T ra viện. Ngày 13/01/2024, bà T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Vật chứng thu giữ: Ngày 28/10/2023, Công an phường T thu giữ của Nguyễn Phạm Thảo N 01 mũ bảo hiểm loại mũ thể thao lưỡi trai bằng nhựa, màu trắng, viền mũ màu đen, kích thước (27,5x19,5x16)cm.

Qua trưng cầu, tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 01 ngày 12/01/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:

“1. Tỷ lệ tổn thương cơ thể: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể như sau: Diện biến đổi sắc tố da mặt trước gối trái: 01% (M, C); tổn thương gây sẩy thai ba tháng giữa: 18% (Mục XII.2.2, Chương 5). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Thu T tại thời điểm giám định là 19%.

2. Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương của Nguyễn Thị Thu T do vật tày gây nên.

3. Kết luận khác: Nguyễn Thị Thu T bị xẩy thai vào lúc 09 giờ ngày 13/11/2023 trong quá trình điều trị tại Bệnh viện Đ1 là do chấn thương vào ngày 28/10/2023".

Đối với 01 mũ bảo hiểm Nguyễn Phạm Thảo N đã sử dụng để đánh bị hại Nguyễn Thị Thu T, Cơ quan điều tra chuyển theo hồ sơ vụ án để xử lý.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Thu T yêu cầu bồi thường dân sự số tiền 113.500.000 đồng. Ngày 04/7/2024 Võ Thị L và Phạm Nhật T2 đã nộp số tiền 30.000.000đồng (Ba mươi triệu đồng) và ngày 14/8/2024 Võ Thị L đã nộp số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu đồng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Gia Lai, để khắc phục hậu quả cho bị hại T.

Đối với Nguyễn Phạm Thảo N, qua điều tra xác định: Như dùng mũ bảo hiểm ném vào vai của Nguyễn Thị Thu T và dùng mũ bảo hiểm đánh 02 cái vào vai của bà T nhưng không để lại thương tích, nên không có cơ sở xác định hành vi của N là nguyên nhân gây ra tổn thương sảy thai đối với bà T. Khi thực hiện hành vi phạm tội Như là người dưới 16 tuổi, nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội phạm ít nghiêm trọng (khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Do đó, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối Như là có căn cứ.

Tại bản cáo trạng số 158/CT-VKS ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Võ Thị L và Nguyễn Phạm Nhật T2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Phạm Nhật T2 phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Về Điều luật áp dụng và hình phạt

- Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 58; Điều 50 của Bộ luật Hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Xử phạt bị cáo Võ Thị L 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời thử thách là 01 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2024).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Nhật T2 06 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời thử thách là 01 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2024).

Giao các bị cáo Võ Thị L và Nguyễn Phạm Nhật T2 cho Ủy ban nhân dân phường N, Thị xã A, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Về bồi thường dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 584; 587; 590 Bộ luật dân sự 2015;

Buộc các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Phạm Nhật T2 phải liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thu T số tiền là 90.960.312 đồng (Chín mươi triệu chín trăm sáu mươi ngàn ba trăm mười hai đồng).

Khấu trừ với số tiền 80.000.000đồng các bị cáo đã tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (theo biên lai thu tiền số 0001308 ngày 04/7/2024 là 30.000.000đồng và biên lai thu tiền số 0001326 ngày 14/8/2024 là 50.000.000đồng). Như vậy, buộc các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Phạm Nhật T2 còn phải tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thu T số tiền là 10.960.312đồng (Mười triệu chín trăm sáu mươi ngàn ba trăm mười hai đồng).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí, quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

3. Kháng cáo của bị cáo: Ngày 28/8/2024 bị hại chị Nguyễn Thị Thu T có đơn kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét tăng nặng trách nhiệm hình sự, tăng mức bồi thường đối với các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Phạm Nhật T2.

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

  • * Bị hại chị Nguyễn Thị Thu T giữ nguyên kháng cáo, chị T từ chối người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và có ý kiến tự bào chữa cho mình.
  • * Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm.
  • * Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo L, không cho bị cáo được hưởng án treo. Xử phạt bị cáo Võ Thị L từ 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Các nội dung khác của Bản án sơ thẩm được giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị hại chị Nguyễn Thị Thu T trong hạn luật định, đúng phạm vi kháng cáo nên được chấp nhận xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Các bị cáo khai nhận: Xuất phát từ việc ghen tức vì chồng mình là Nguyễn Thành T1 có tình cảm với bà Nguyễn Thị Thu T, nên khoảng 08 giờ ngày 28/10/2023, L đi bộ từ số nhà C đường T đến tiệm cắt tóc của bà T tại số A đường N. Trên đường đi, L gặp T2 điều khiển xe mô tô biển số 81G1-288.28 chở Như; L kể cho T2 và N biết việc ông T1 và bà T vẫn còn quan hệ tình cảm. Sau đó, L, T2 và N thống nhất cùng đi tìm bà T, để nói chuyện. Võ Thị L cùng các con là Nguyễn Phạm Nhật T2 và Nguyễn Phạm Thảo N đã xô xát, đánh nhau, gây ra thương tích cho bà Nguyễn Thị Thu T tỷ lệ tổn thương cơ thể 19%.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Võ Thị L và Nguyễn Phạm Nhật T2 đã bị xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự; đối với Nguyễn Phạm Thảo N chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên không xử lý là có căn cứ, đúng tội.

[3] Về kháng cáo của bị hại thấy rằng:

[3.1] Về yêu cầu đề nghị tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Võ Thị L và Nguyễn Phạm Nhật T2:

Trong vụ án này bị cáo L và bị cáo T2 là 02 mẹ con, bị cáo L là người có vai trò chính. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến sức khỏe người bị hại, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo đều là người có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại. Tại giai đoạn phúc thẩm, các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Phạm Nhật T2 giao nộp cho Toà án biên lai thể hiện đã nộp xong phần án phí sơ thẩm và nộp đủ số tiền phải bồi thường còn lại 10.960.312 đồng cho cơ quan thi hành án dân sự theo bản án sơ thẩm. Bị cáo L còn nộp 01 Quyết định của Toà án thể hiện đã ly hôn và trực tiếp nuôi 3 con nhỏ, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng.

Để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật nên giữ nguyên mức hình phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đối với bị cáo L, và mức hình phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đối với bị cáo T2 như Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Kháng cáo của bị hại đề nghị tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là không được chấp nhận.

[3.2] Đối với kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường:

Đối với yêu cầu bồi thường chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, giảm sút và thu nhập bị mất, tổng cộng 32.460.312 đồng như Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chấp nhận là phù hợp.

Tuy nhiên đối với số tiền bồi thường tiền tổn thất tinh thần xét thấy: Hành vi của các bị cáo L, T2 ngoài việc gây ra thương tích cho bị hại T thì còn làm cho bị hại bị sẩy thai, gây mất mát đau buồn với bị hại và gia đình, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tinh thần của bị hại. Toà án cấp sơ thẩm chỉ buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại tiền tổn thất tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm với mức 58.500.000đồng (tương đương 25 tháng lương cơ sở) là chưa phù hợp. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị hại, buộc các bị cáo L, T2 phải liên đới bồi thường tổn thất về tinh thần cho bị hại là 93.600.000 đồng (tương đương 40 tháng lương cơ sở). Tổng cộng các bị cáo phải liên đới bồi thường 126.060.312 đồng là phù hợp.

[4] Về án phí: Do sửa Bản án tăng mức bồi thường dân sự nên sửa lại án phí dân sự sơ thẩm cho đúng với quy định.

Bị hại chị Nguyễn Thị Thu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm b khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại chị Nguyễn Thị Thu T về tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Võ Thị Lệ, Nguyễn Phạm Nhật T2; Chấp nhận một phần kháng cáo của của bị hại chị Nguyễn Thị Thu T tăng mức bồi thường dân sự. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về phần bồi thường dân sự.

    Về tội danh và hình phạt:

    • - Tuyên bố các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Phạm Nhật T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 58; Điều 50 của Bộ luật Hình sự:
    • + Xử phạt bị cáo Võ Thị L 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2024).
    • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Nhật T2 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời thử thách 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/8/2024).

    Giao các bị cáo Võ Thị L và bị cáo Nguyễn Phạm Nhật T2 cho Ủy ban nhân dân phường N, Thị xã A, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584; 587; 590 Bộ luật dân sự:

    Buộc các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Phạm Nhật T2 phải liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thu T số tiền là 126.060.312đ (Một trăm hai mươi sáu triệu không trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười hai đồng). Nhưng được khấu trừ vào số tiền 90.960.312đ (Chín mươi triệu sáu trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười hai đồng) các bị cáo đã tạm nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (30.000.000đồng theo biên lai thu tiền số 0001308 ngày 04/7/2024; 50.000.000đồng theo biên lai thu tiền số 0001326 ngày 14/8/2024; 10.960.312 đồng trong số tiền 11.960.312 đồng theo biên lai thu tiền số 0001355 ngày 18/9/2024).

    Bảo lưu số tiền 90.960.312đ (Chín mươi triệu sáu trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười hai đồng) các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku nêu trên để bảo đảm thi hành án cho bị hại Nguyễn Thị Thu T.

    Các bị cáo Võ Thị L, Nguyễn Phạm Nhật T2 còn phải tiếp tục liên đới bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thu T số tiền là 35.100.000₫ (Ba mươi lăm triệu một trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm trả.

  3. Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

    • - Buộc bị cáo Võ Thị L và bị cáo Nguyễn Phạm Nhật T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.151.508đ (Một triệu một trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm lẻ tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được cấn trừ trong số tiền mỗi bị cáo đã nộp đã nộp 500.000 đồng trong số 11.960.312đ (Mười một triệu chín trăm sáu mươi nghìn ba trăm mười hai đồng) theo biên lai thu tiền số 0001355 ngày 18/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, mỗi bị cáo còn phải nộp 851.508₫ (T3 trăm năm mươi mốt nghìn năm trăm lẻ tám đồng).
    • - Bị hại chị Nguyễn Thị Thu T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - CQCSĐT thành phố Pleiku;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - TAND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THADS thành phố Pleiku;
  • - Bị cáo, bị hại, NTGTT khác;
  • - Lưu VT, THS, hồ sơ vụ án

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-PT ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 45/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị L - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger