|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10-10-2024
“V/v Tranh chấp xác định cha cho con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh
Ông Đinh Đức Thành
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 10/10/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc: “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: anh Đoàn Trung C, sinh năm 1980. Nơi thường trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bị đơn: chị Phạm Thị N, sinh năm 1984. Nơi thường trú: khu B, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Trần Anh T, sinh năm 1982. HKTT: tổ H, phường D, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Hiện đang chấp hành án tại phân trại số 1, Trại giam S; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đoàn Trung C trình bày: Anh Đoàn Trung C có quen biết với chị Phạm Thị N vào năm 2017. Khi này chị N có chồng là anh Trần Anh T nhưng cả hai đã sống ly thân từ năm 2010, không còn quan tâm đến nhau nữa (năm 2022 chị N và anh T ly hôn). Sau thời gian quen biết và hiểu hoàn cảnh của chị N cả có phát sinh tình cảm và trong thời gian quen biết này chị N có sinh hai người con, ngày 03/02/2021 chị N sinh một người con dự định đặt tên là Đoàn Phú Q theo giấy chứng sinh số 070221, ngày 05/02/2021 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và ngày 24/6/2022 chị N sinh một người con dự định đặt tên là Đoàn Phú T1 theo giấy chứng sinh số 220603, ngày 29/6/2022 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Anh Đoàn Trung Chính xác Đ hai người con mà chị N sinh dự định đặt tên là Đoàn Phú Q và Đoàn Phú T1 là con của anh, để thực thực việc này, anh C đã cùng với 2 hai người con mà chị N sinh dự định đặt tên là Đoàn Phú Q và Đoàn Phú T1 đi xét nghiệm ADN huyết thống. Kết quả phân tích ADN của Công ty Cổ phần C2 xác định anh C và hai người con mà chị N sinh dự định đặt tên là Đoàn Phú Q và Đoàn Phú T1 có quan hệ huyết thống C1 - Con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi cho anh C và các con, anh C làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xác định hai người con mà chị N sinh dự định đặt tên là Đoàn Phú Q, sinh ngày 03/02/2021 theo giấy chứng sinh số 070221, ngày 05/02/2021 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và cháu bé dự định đặt tên là Đoàn Phú T1, sinh ngày 24/6/2022 theo giấy chứng sinh số 220603, ngày 29/6/2022 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh là con của anh C.
- Bị đơn chị Phạm Thị N trình bày: Chị N có quen biết với anh Đoàn Trung C vào năm 2017. Trước khi quen anh C thì chị N đã có chồng nhưng cả hai đã sống ly thân từ năm 2010, không ai còn quan tâm đến ai nữa. Đến năm 2022 thì chị N và anh T ly hôn. Trong thời gian sống ly thân thì chị N có quen biết anh C. Sau thời gian quen biết và hiểu hoàn cảnh của nhau có nảy sinh tình cảm. Trong thời gian quen biết này chị N có sinh hai người con dự định đặt tên là: Đoàn Phú Q, sinh ngày 03/02/2021 theo giấy chứng sinh số 070221, ngày 05/02/2021 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và Đoàn Phú T1 sinh ngày 24/6/2022 theo giấy chứng sinh số 220603, ngày 29/6/2022 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Nay anh C khởi kiện xác định hai người con chị N sinh dự định đặt tên là Đoàn Phú Q, sinh ngày 03/02/2021 theo giấy chứng sinh số 070221, ngày 05/02/2021 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và Đoàn Phú T1, sinh ngày 24/6/2022 theo giấy chứng sinh số 220603, ngày 29/6/2022 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh là con của anh C thì chị đồng ý, vì đây là con của anh C.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Anh T trình bày: Anh T và chị N đã sống ly thân nhau từ năm 2010, đến năm 2022 thì ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Anh T đã nhận được bản sao đơn khởi kiện và các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, nhưng hiện nay anh T đang đi chấp hành án phạt tù nên đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt anh T. Về yêu cầu khởi kiện của anh C, anh T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh C về 2 người con, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại phiên tòa: Tất cả các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt và thể hiện vẫn giữ nguyên những quan điểm, yêu cầu đã trình bày.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số 231206.13.2 và Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số 231206.13.1 Công ty Cổ phần C2 đã kết luận anh Đoàn Trung C với Đoàn P sinh ngày 03/02/2021 và Đoàn Phú T1 sinh ngày 07/01/2022 có quan hệ huyết thống Cha – Con với xác suất 99.9999%.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cơ bản chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Trung C.
Xác định anh Đoàn Trung C, sinh năm 1980. Nơi thường trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của cháu bé dự định đặt tên là Đoàn Phú Q, sinh ngày 03/02/2021 theo giấy chứng sinh số 070221, ngày 05/02/2021 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và cháu bé dự định đặt tên là Đoàn Phú T1, sinh ngày 24/6/2022 theo giấy chứng sinh số 220603, ngày 29/6/2022 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.
Về án phí: chị Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên toà và ý kiến của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn anh Đoàn Trung C yêu cầu Tòa án giải quyết xác định cha cho con, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Phạm Thị N hiện cư trú trên địa bàn thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Do vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tất cả các đương sự đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Trung C: Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị Phạm Thị N và anh Trần Anh T tự nguyện kết hôn năm 2005 nhưng do mâu thuẫn nên cả hai đã sống ly thân từ năm 2010, không còn quan tâm đến nhau nữa, đến năm 2022 cả hai đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 176/QÐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Trong thời gian sống ly thân chị N đã sinh hai người con dự định đặt tên là: Đoàn Phú Q, sinh ngày 03/02/2021 theo giấy chứng sinh số 070221, ngày 05/02/2021 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và Đoàn Phú T1 sinh ngày 24/6/2022 theo giấy chứng sinh số 220603, ngày 29/6/2022 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh với anh Đoàn Trung C. Theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân gia đình, hai người con mà chị N sinh dự định đặt tên là Đoàn Phú Q và Đoàn Phú T1 được xác định là con chung trong thời kỳ hôn nhân của chị N và anh T.
Quá trình giải quyết vụ án anh T có quan điểm không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh C về 2 người con, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên anh T cũng không cung cấp được tài liệu chứng minh hai cháu bé dự định đặt tên là Đoàn Phú Q và Đoàn Phú T1 không phải là con của anh C. Chị N đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh C, xác định hai người con mà chị N sinh dự định đặt tên là: Đoàn Phú Q, sinh ngày 03/02/2021 theo giấy chứng sinh số 070221, ngày 05/02/2021 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh và Đoàn Phú T1 sinh ngày 24/6/2022 theo giấy chứng sinh số 220603, ngày 29/6/2022 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh là con của anh C.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số 231206.13.2 và Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số 231206.13.1 Công ty Cổ phần C2 đã kết luận anh Đoàn Trung C với cháu Đoàn Phú Q sinh ngày 03/02/2021 và Đoàn Phú T1 sinh ngày 07/01/2022 có quan hệ huyết thống Cha – Con với xác suất 99.9999%.
Tại văn bản trả lời yêu cầu xác minh của Công ty Cổ phần C2 thể hiện: Công ty Cổ phần C2 có tiếp nhận hồ sơ xét nghiệm ADN cha con giữa anh Đoàn Trung C với cháu Đoàn Phú Q và Đoàn Phú T1. Toàn bộ trình tự, thủ tục lấy mẫu, xét nghiệm được thực hiện khách quan, chính xác theo quy định. Kết quả xét nghiệm ADN số 231206.13.2 và số 231206.13.1 đã được giao cho khách hàng.
Do đó Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số 231206.13.2 và Phiếu kết quả xét nghiệm ADN số 231206.13.1 là tài liệu đảm bảo các thuộc tính của chứng cứ, phù hợp với các tài liệu thu thập hợp pháp khác nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và làm căn cứ giải quyết vụ án. Theo đó, có cơ sở vững chắc để kết luận anh Đoàn Trung C với cháu Đoàn Phú Q và Đoàn Phú T1 có quan hệ huyết thống C1 - Con. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Trung C về việc xác định anh C là cha đẻ của 2 (Hai) cháu bé mà chị N sinh dự định đặt tên Đoàn Phú Q và Đoàn Phú T1 là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 88, khoản 1 Điều 89 và khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Trung C.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn anh Đoàn Trung C được Tòa án chấp nhận nên bị đơn chị Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- - Điều 88, khoản 1 Điều 89, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân gia đình;
- - khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 203; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238, 271, 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - điểm b khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Trung C về việc xác định cha cho con. Xác định anh Đoàn Trung C, sinh năm 1980. Nơi thường trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh là cha đẻ của 02 (Hai) cháu bé mà chị Phạm Thị N sinh dự định đặt tên là: Đoàn Phú Q, sinh ngày 03/02/2021 (theo giấy chứng sinh số 070221, ngày 05/02/2021 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh) và Đoàn Phú T1, sinh ngày 24/6/2022 (theo giấy chứng sinh số 220603, ngày 29/6/2022 tại Trung tâm y tế thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh).
Anh Đoàn Trung C và chị Phạm Thị N có quyền liên hệ với các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Công dân theo quy định của pháp luật.
2. Về án phí: chị Phạm Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Phúc Định |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 10/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp xác định cha cho con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xác định cha cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đoàn Trung Chính về việc xác định cha cho con
