|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 30/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN NHÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Ngọc Thời
- - Bà Lê Thị Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thanh Hiển – Kiểm sát viên.
Vào ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXXST-HS ngày 20/9/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trung H, sinh ngày 07 tháng 6 năm 1997 tại tỉnh Quảng Ngãi;
Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 8/12; Con ông: Con ngoài giá thú; Con bà: Nguyễn Thị Â; Vợ/ con: Chưa có; Tiền án: 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” cụ thể: Ngày 25/08/2021, Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xử phạt tù có thời hạn 09 tháng theo bản án số 25/HS-ST. Bị cáo chấp hành án phạt tù tại Trại giam X, ngày 14/02/2022 bị cáo chấp hành xong án phạt tù; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ từ ngày 13/01/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa
2.2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Bùi Quang T, sinh năm 1997; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- - Chị Phạm Thị Đ, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- - Anh Đặng Đình T1, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- - Bà Trương Thị T2, sinh năm 1968; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
2.3 Người làm chứng:
- - Anh Đặng Hoàng T3, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- - Bà Nguyễn Thị Â, sinh năm 1961; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Sáng ngày 13/01/2024, bị cáo Nguyễn Trung H điều khiển xe mô tô BKS 76H1- 457.02 chở bạn gái là Phạm Thị Đ từ thị xã Đ đến trại giam K thuộc tỉnh Bình Định để thăm bạn đang chấp hành án phạt tù, đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì cả 02 về lại Đ. Sau khi Phạm Thị Đ về B thì Nguyễn Trung H điều khiển xe đến gần khu L ở TDP C, phường N, thị xã Đ gặp Đặng Hoàng T3 để mua ma túy loại Methamphetamine với số tiền 200.000đ, ma túy được gói trong mảnh giấy hình chữ nhật một mặt màu trắng, một mặt màu vàng. Sau đó H về nhà ở TDP Đ, phường P, thị xã Đ lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 nỏ thủy tinh (có đầu dạng phễu, có đuôi thủy tinh dài, sau đó đến khu vực hiện trường bẻ ngắn làm 02 đoạn: 01 đoạn thẳng để thổi nỏ mới, còn đoạn có đầu phễu còn lại để sử dụng), 01 ống hút màu vàng trắng gắn trong nắp chai màu đỏ đục thủng 02 lỗ, 01 bật lửa, ngoài ra còn mang theo 01 gói thuốc, 01 đầu khò gas màu đen cam mang đến khu vực nghĩa địa G Cúng thuộc TDP Tập A, phường P, thị xã Đ để sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Trung H gọi điện thoại (qua ứng dụng Z) cho Bùi Quang T nhờ mua bình gas mini mang đến cho H với mục đích để H sử dụng tạo nỏ thủy tinh. Trong khi ở khu vực nghĩa địa Gò Đất C, H thấy có sẵn chai nước suối hiệu Thạch Bích, loại 500ml bên trong có nước nên lấy gắn vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã mang theo, rồi khi Bùi Quang T đến, H lấy ma túy được gói mảnh giấy ra đổ hết vào nỏ thủy tinh, đốt lên để sử dụng rồi đưa cho T sử dụng, tổng cộng T hút 02 hơi rồi trả lại cho H và T ra về. Sau đó, Đặng Đình T1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76V5-0059 đến vì trước đó Nguyễn Trung H đã gọi cho T1 nhờ đến thổi nỏ thủy tinh, khi T1 đến được H đốt ma túy có sẵn trong nỏ cho T1 sử dụng, hút được 02 hơi thì trong lúc T1 dùng bình gas mini đã gắn sẵn đầu khò gas chuẩn bị thổi ống thủy tinh tạo nỏ giúp cho H đã bị Tổ tuần tra Công an thị xã Đ phối hợp với Công an phường P phát hiện, Nguyễn Trung H và Đặng Đình T1 bỏ chạy làm rơi vỡ nỏ thủy tinh và các vật dụng khác nhưng H và T1 đã bị khống chế. Lực lượng chức năng đã tạm giữ, niêm phong các vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ đối với Nguyễn Trung H về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Sau đó Công an thị xã Đ tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Trung H, Đặng Đình T1 và Bùi Quang T: Tất cả đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
- Kết luận giám định số 66/KL-KTHS ngày 21/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q xác định:
- + Chất rắn màu trắng đục bám dính trên tờ giấy hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine; Mẫu ở dạng vết nên không tiến hành cân khối lượng.
- + Chất rắn màu trắng đục bám dính bên trong ống thủy tinh gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine; Mẫu ở dạng vết nên không tiến hành cân khối lượng.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 27/CT – VKS-ĐP ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Trung H từ 08 năm đến 09 năm tù giam.
Về xử lý vật chứng: Quá trình bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu sau:
Tạm giữ của Nguyễn Trung H: 01 đoạn ống thủy tinh dạng cong; 01 bật lửa gas màu xanh hiệu Viva được nối dài phần khò gas bằng ống nhựa màu trắng và ống giấy bạc; 01 mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng bám dính tinh thể màu trắng. Sau giám định trả lại 01 mảnh giấy hình chữ nhật được niêm phong theo quy định trong phong bì số 66; 01 bật lửa gas bên trong có 02 hạt nhựa màu vàng và xanh, đã qua sử dụng; 01 nút chai màu đỏ đục thủng 02 lỗ; 01 nút chai màu xanh có chữ “Thạch Bích”; 01 ống hút nhựa màu vàng trắng; 01 ống hút nhựa màu đỏ trắng; 01 nắp che gió bằng kim loại của bật lửa gas; 01 đoạn ống thủy tinh dạng cong bám dính tinh thể màu trắng và nhiều mảnh vỡ thủy tinh bám dính tinh thể. Sau giám định trả lại được niêm phong theo quy định trong phong bì số 66; 01 chai nước suối hiệu “ Thạch Bích” loại 500ml, có nắp màu đỏ đục thủng hai lỗ, bên trong chứa khoảng 350ml chất lỏng không màu. Đây là chai nước suối được bị cáo sử dụng để gắn dụng cụ sử dụng ma túy, sau khi tạm giữ, Điều tra viên đã đổ toàn bộ nước bên trong vào vỏ chai nước hiệu Thạch Bích loại 350ml và niêm phong theo quy định; 01 bình gas mini màu đỏ trắng, có gắn đầu khò gas màu đen cam; 01 vỏ bao thuốc JET, bên trong có 05 điếu thuốc; 01 xe mô tô BKS: 76H1-45702 và 01 chìa khóa từ hiệu “Honda”; 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu VSMART đã qua sử dụng.
- Tạm giữ của Đặng Đình T1: 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Redmi đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô hiệu Dream, màu nâu, BKS: 76V5-0059 đã qua sử dụng.
* Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã xử lý: Qua quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS: 76H1-45702 và chìa khóa là của Phạm Thị Đ (bạn gái của Nguyễn Trung H), xe mô tô BKS: 76V5-0059 là của bà Trương Thị T2 (mẹ của Đặng Đình T1). Những người này không có lỗi trong việc thực hiện hành vi trái pháp luật của H và T1 nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu nên đề nghị không xem xét.
* Xử lý các vật chứng còn lại như sau: Đề nghị Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu VSMART của Nguyễn Trung H đã qua sử dụng;
Trả lại 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Redmi đã qua sử dụng của Đặng Đình T1
Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng khác đang tạm giữ của H
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng họ vắng mặt không có lý do; tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ. Do vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định:
Ngày 13/01/2024, bị cáo Nguyễn Trung H mua ma tuý và chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy sau đó rủ Bùi Quang T và Đặng Đình T1 đến khu vực nghĩa địa Gò Đất C thuộc TDP Tập A, phường P, thị xã Đ để sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã Đ phối hợp với Công an phường P phát hiện. Sau đó Công an thị xã Đ tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Nguyễn Trung H, Đặng Đình T1 và Bùi Quang T: Tất cả đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
- Kết luận giám định số 66/KL-KTHS ngày 21/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q xác định: Chất rắn màu trắng đục bám dính trên tờ giấy hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine; Chất rắn màu trắng đục bám dính bên trong ống thủy tinh gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 27/CT-VKS-ĐP ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Xét bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có nhận thức và hiểu biết về pháp luật. Bị cáo hiểu rõ ma túy là một tệ nạn xã hội, gây hậu quả hệ lụy rất lớn cho nhân loại và toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi cung cấp ma tuý, dụng cụ sử dụng ma tuý, rủ người khác cùng sử dụng ma tuý là hành vi trái pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma tuý là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo không những sử dụng ma tuý để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân mà còn mua ma tuý, chuẩn bị dụng cụ sử dụng và tổ chức cho Bùi Quang T và sau đó là Đặng Đình T1 sử dụng trái phép chất ma tuý. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cộng đồng nên cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 25/8/2021, Nguyễn Trung H bị Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 14/02/2022 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, thời hạn đương nhiên xóa án tích trong trường hợp này là 02 năm kể từ ngày chấp hành xong án phạt tù, nhưng ngày 13/01/2024, Nguyễn Trung H thực hiện hành vi phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Trung H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, xem đây là tình tiết để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Với tính chất, mức độ hành vi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, phòng chống tội phạm và giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng: Quá trình bắt người phạm tội quả tang, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã tạm giữ các đồ vật, tài liệu như đã nêu trên.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã xử lý: Qua quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS: 76H1-45702 và chìa khóa là của Phạm Thị Đ (bạn gái của Nguyễn Trung H), xe mô tô BKS: 76V5-0059 là của bà Trương Thị T2 (mẹ của Đặng Đình T1). Những người này không có lỗi trong việc thực hiện hành vi trái pháp luật của H và T1 nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng qui định nên không xét.
* Xử lý các vật chứng còn lại: Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu VSMART của Nguyễn Trung H đã qua sử dụng;
Trả lại cho Đặng Đình T1 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Redmi đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng: 01 đoạn ống thủy tinh dạng cong; 01 bật lửa gas màu xanh hiệu Viva được nối dài phần khò gas bằng ống nhựa màu trắng và ống giấy bạc; 01 bật lửa gas bên trong có 02 hạt nhựa màu vàng và xanh, đã qua sử dụng; 01 nút chai màu đỏ đục thủng 02 lỗ; 01 nút chai màu xanh có chữ “Thạch Bích”; 01 ống hút nhựa màu vàng trắng; 01 ống hút nhựa màu đỏ trắng; 01 nắp che gió bằng kim loại của bật lửa gas; 01 vỏ bao thuốc JET, bên trong có 05 điếu thuốc; 01 phong bì số 66/KTHS (GĐ-2024) bên trong phong bì có chứa 01 mảnh giấy hình chữ nhật, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng bám dính tinh thể màu trắng và 01 đoạn ống thủy tinh hình cong bị bể vỡ nham nhỡ, một số mảnh vỡ thuỷ tinh cùng vỏ bao gói gửi giám định; 01 chai nước suối hiệu “ Thạch Bích” loại 500ml, có nắp màu đỏ đục thủng hai lỗ; 01 chai nước suối hiệu “ Thạch Bích” loại 350ml bên trong chứa khoảng 350ml chất lỏng không màu; 01 bình gas mini màu đỏ trắng, có gắn đầu khò gas màu đen cam;
[5] Về xử lý hành vi và đối tượng khác trong vụ án:
Đối với Đặng Hoàng T3 là người mà bị cáo Nguyễn Trung H khai đã bán trái phép chất ma túy cho H với số tiền 200.000đ. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã tiến hành lấy lời khai, cho đối chất giữa T3 và H. Tuy nhiên Đặng Hoàng T3 phủ nhận việc có gặp và bán ma túy trái phép cho Nguyễn Trung H vào ngày 13/01/2024. Ngoài lời khai của bị cáo và tin nhắn (không thể hiện việc T3 chấp nhận giao dịch với H) thì không còn chứng cứ vật chất nào khác để buộc tội đối với Đặng Hoàng T3. Do đó không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Đặng Hoàng T3 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” nên không xem xét.
Đối với Bùi Quang T và Đặng Đình T1 đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo Nguyễn Trung H vào ngày 13/01/2024. Tuy nhiên T và T1 chỉ sử dụng với vai trò là người thụ hưởng, không có hành vi góp tiền, không cung cấp ma túy, dụng cụ cũng như tạo các điều kiện khác để giúp sức cho H sử dụng trái pháp chất ma túy. Vì vậy, Bùi Quang T và Đặng Đình T1 không phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Công an thị xã Đ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Quang T và Đặng Đình T1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét.
Đối với việc Nguyễn Trung H nhờ Bùi Quang T mua bình gas mini mang đến cho H để H nhờ Đặng Đình T1 chế tạo nỏ thủy tinh dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy sau này. Bùi Quang T không biết bị cáo H nhờ mua bình gas với mục đích để làm gì, Đặng Đình T1 cũng chưa chế tạo thành công nỏ thủy tinh mà các đối tượng đã sử dụng trái phép chất ma túy bằng nỏ thủy tinh cũ của bị cáo H mang đến. Vì vậy, không đủ căn cứ để xử lý đối với Bùi Quang T và Đặng Đình T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ điều tra bổ sung để thu thập tài liệu về tiền án, tiền sự của Đặng Đình T1 mới có cơ sở xử lý Đặng Đình T1 có dấu hiệu phạm tội “Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 254 Bộ luật hình sự hay không. Tuy nhiên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ không chấp nhận và cho rằng hành vi của Đặng Đình T1 không cấu thành tội phạm nên không trích lục tiền án, tiền sự của T1. Theo Điều 298 BLTTHS qui định giới hạn của việc xét xử. Do đó Toà án chỉ xét xử bị cáo Nguyễn Trung H về hành vi và tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H 08 (T4) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 01 năm 2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu xanh, hiệu VSMART của Nguyễn Trung H đã qua sử dụng;
Trả lại cho Đặng Đình T1 01 điện thoại di động màu đen, hiệu Redmi đã qua sử dụng.
Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng: 01 đoạn ống thủy tinh dạng cong; 01 bật lửa gas màu xanh hiệu Viva được nối dài phần khò gas bằng ống nhựa màu trắng và ống giấy bạc; 01 bật lửa gas bên trong có 02 hạt nhựa màu vàng và xanh, đã qua sử dụng; 01 nút chai màu đỏ đục thủng 02 lỗ; 01 nút chai màu xanh có chữ “Thạch Bích”; 01 ống hút nhựa màu vàng trắng; 01 ống hút nhựa màu đỏ trắng; 01 nắp che gió bằng kim loại của bật lửa gas; 01 vỏ bao thuốc JET, bên trong có 05 điếu thuốc; 01 phong bì số 66/KTHS (GĐ-2024) bên trong phong bì có chứa 01 tờ giấy hình chữ nhật và 01 đoạn ống thủy tinh hình cong bị bể vỡ nham nhỡ, một số mảnh vỡ thuỷ tinh cùng vỏ bao gói gửi giám định; 01 chai nước suối hiệu “ Thạch Bích” loại 500ml, có nắp màu đỏ đục thủng hai lỗ; 01 chai nước suối hiệu “ Thạch Bích” loại 350ml bên trong chứa khoảng 350ml chất lỏng không màu; 01 tíu ni lông màu hồng bên trong chứa 01 bình gas mini màu đỏ trắng, có gắn đầu khò gas màu đen cam;
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Trung H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Trung |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hiếu tổ chức sử dụng ma tuý
