|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/DS-ST Ngày: 27 - 9 - 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Hoàn và bà Vũ Thị Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 6 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51A/2024/QĐXXST-DS, ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/QĐST-DS, ngày 19 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X (Ngân hàng E). Địa chỉ: tầng H, Văn phòng số L+16 Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Cảnh A - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Đại diện theo ủy quyền: bà Đỗ Thị Hồng Á - chức vụ: Giám đốc Ngân hàng E chi nhánh Q. Đại diện theo ủy quyền lại: ông Phùng Đức G - chức vụ: Giám đốc E, có vắng mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn:
1. Ông Vũ Thành L, sinh năm 1976.
Nơi thường trú: khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1982.
Nơi thường trú: khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh (ủy quyền cho chồng là anh Vũ Thành L), vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện Nguyên đơn trình bày: Ngân hàng TMCP X (E) đã ký 2 Hợp đồng tín dụng cho ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H chi tiết theo từng hợp đồng tín dụng sau:
Hợp đồng tín dụng LAV200101022/1905 ký ngày 17/11/2020, E đã giải ngân cho ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H theo khế ước nhận nợ cụ thể như sau:
* Khế ước nhận nợ số LDS200000240/1905 ngày 17/11/2020: Số tiền giải ngân: 600.000.000 đồng; Mục đích vay: Sửa chữa nhà; Lãi suất cho vay: 11,49%/năm, cố định 12 tháng đầu, từ tháng thứ 13 trở đi, lãi suất cho vay = (bằng) lãi suất tiền gửi tiết kiệm (lãi suất năm) kỳ hạn 24 tháng, trả lãi cuối kỳ do E công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + (cộng) 4,3%/năm. Thời hạn vay: 180 tháng, kể từ ngày 17/11/2020 đến ngày 17/11/2035; Lịch trả nợ gốc: trả thành 180 kỳ; mỗi kỳ vào ngày 20 hàng tháng, số kỳ được trả mỗi kỳ là 3.330.000 đồng, kỳ đầu tiên trả nợ gốc là ngày 20/12/2020, kỳ trả nợ cuối cùng ngày 17/11/2035; Lịch trả lãi: vào ngày 20 hàng tháng. Lãi suất quá hạn: 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
* Tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho khoản vay của ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H tại Hợp đồng tín dụng trên, ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H đã thế chấp cho E: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất số CU 584818 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02570 do UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2020, đứng tên chủ sử dụng/sở hữu hợp pháp là ông Vũ Thành L.
(Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0147/EIBQY-TDCN/TC/20 ngày 16/11/2020, công chứng số 1551, Quyển số 01.2020TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/11/2020 tại Văn phòng C tỉnh Quảng Ninh; Đăng ký giao dịch bảo đảm số 1955 ngày 16/11/2020 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Q).
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905 đến ngày 20/04/2023, ông Vũ Thành L đã trả cho E số tiền gốc: 96.570.000 đồng và số tiền lãi: 182.710.524. Sau đó, ông Vũ Thành L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, E đã nhiều lần làm việc yêu cầu ông L thanh toán nợ nhưng khách hàng không thực hiện. Tính đến ngày 11/08/2023, ông Vũ Thành L còn nợ E số tiền là: 527.057.000 đồng (Nợ gốc: 503.430.000 đồng; L1 và lãi quá hạn: 23.627.000 đồng).
Hợp đồng tín dụng LAV220008036/1905 ký ngày 25/01/2022, E đã giải ngân cho ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H theo khế ước nhận nợ cụ thể như sau:
* Khế ước nhận nợ số LDS220000034/1905 ngày 25/01/2022: Số tiền giải ngân: 400.000.000 đồng; Mục đích vay: Mua sắm trang thiết bị gia đình; Lãi suất cho vay: 9,99 %/năm, cố định 12 tháng đầu, từ tháng thứ 13 trở đi, lãi suất cho vay = (bằng) lãi suất cơ sở do E công bố có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + (cộng) 2,9%/năm. Thời hạn vay: 120 tháng, kể từ ngày 25/01/2022 đến ngày 25/01/2032; Lịch trả nợ gốc: trả thành 120 kỳ; mỗi kỳ vào ngày 25 hàng tháng, số kỳ được trả mỗi kỳ là 3.330.000 đồng, kỳ đầu tiên trả nợ gốc là ngày 25/02/2022, kỳ trả nợ cuối cùng ngày 25/01/2032; Lịch trả lãi: vào ngày 25 hàng tháng; Lãi suất quá hạn: 150% mức lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.
* Tài sản bảo đảm: Để bảo đảm cho khoản vay của ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H tại Hợp đồng tín dụng trên, ông Vũ Thành L đã thế chấp cho E: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất số DB 394411 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02906 do UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/12/2021, đứng tên chủ sử dụng/sở hữu hợp pháp là ông Vũ Thành L.
(Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0020/EIBQY-TDCN/TC/22 ngày 25/01/2022, công chứng số 293, Quyển số 01.2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/01/2022 tại văn phòng C1; Đăng ký giao dịch bảo đảm số 270 ngày 25/01/2022 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Q).
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905 đến ngày 27/04/2023, ông Vũ Thành L đã trả cho E số tiền gốc: 49.950.000 đồng và số tiền lãi: 57.230.695. Sau đó, ông Vũ Thành L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, E đã nhiều lần làm việc yêu cầu ông L thanh toán nợ nhưng khách hàng không thực hiện. Tính đến ngày 11/08/2023, ông Vũ Thành L còn nợ E số tiền là: 365.504.000 đồng (Nợ gốc: 350.050.000 đồng; L1 và lãi quá hạn: 15.454.000 đồng).
Nay Ngân hàng căn cứ Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905 ký ngày 17/11/2020; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0147/EIBQY-TDCN/TC/20 ngày 16/11/2020; Khế ước nhận nợ số LDS200000240/1905 ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng LAV220008036/1905 ký ngày 25/01/2022; Khế ước nhận nợ số LDS220000034/1905 ngày 25/01/2022; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0020/EIBQY-TDCN/TC/22 ngày 25/01/2022; E kính đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giải quyết:
- Đề nghị Tòa tuyên Chấm dứt Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905 ký ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng LAV220008036/1905 ký ngày 25/01/2022.
- Buộc ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H thanh toán cho Ngân hàng TMCP X (E) toàn bộ nợ gốc và lãi phát sinh theo:
- - Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905 tạm tính đến ngày 27/9/2024 là: 469.348.329 đồng (Nợ gốc: 453.480.000 đồng; nợ lãi và lãi quá hạn: 15.868.329 đồng). Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
- - Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905 tính từ ngày 27/9/2024 là: 333.643.432 đồng (Nợ gốc: 313.420.000 đồng; nợ lãi và lãi quá hạn: 20.223.432 đồng). Trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực.
- Trường hợp ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H không trả nợ hoặc trả không đủ thì Ngân hàng TMCP X (E) có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là:
- - Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất số CU 584818 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02570 do UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2020, đứng tên chủ sử dụng/ sở hữu hợp pháp là ông Vũ Thành L.
- - Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất số DB 394411 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02906 do UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/12/2021, đứng tên chủ sử dụng/ sở hữu hợp pháp là ông Vũ Thành L.
- Nếu phát mại tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi trả xong nợ cho E.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập và tống đạt các văn bản cho bà Nguyễn Thị H hợp lệ và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng bà Nguyễn Thị H đều vắng mặt không có lý do.
Về chi phí tố tụng và án phí đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Vũ Thành L trình bày: Năm 2020 và năm 2022 vợ chồng ông Vũ Thành L có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng E chi nhánh Q, với tổng số tiền vay của 2 hợp đồng là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Trong quá trình vay ông L và bà H đã trả cho ngân hàng tuy nhiên do làm ăn ông bà L, H có bị chậm trễ trả cho ngân hàng mấy tháng. Đến nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông L và bà H phải trả toàn bộ khoản nợ, ông L và bà H nhận có khoản nợ như vay của ngân hàng nhưng vì làm ăn quá khó khăn ông L và bà H mong muốn ngân hàng tiếp tục cho ông L và bà H nợ lại khoản vay và hàng tháng ông L và bà H cam kết đóng đầy đủ không nợ dây dưa lãi và gốc của ngân hàng, mong muốn ngân hàng thông cảm và tạo điều kiện. Về chi phí tố tụng và án phí đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/8/2024 Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ (sơ đồ hiện trạng) kết quả như sau:
- Thửa đất số 161 tách ra từ thửa 131, tờ bản đồ 19 (tương ứng thửa 94, tờ bản đồ P12) tại khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND thị xã Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 394411, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02906 ngày 13/12/2021 cho ông Vũ Thành L có diện tích hiện trạng 272,9m². Tứ cận của thửa đất: phía Tây giáp nhà ông Bùi Xuân T; phía Đông giáp nhà ông Bùi Đắc H1; phía Nam giáp nhà bà Lê Thị M; phía Bắc giáp nhà bà Nguyễn Thị L2. Tài sản trên đất: 01 bể nước, 01 nhà cấp 4 (lợp ngói), 01 công trình phụ, 01 sân bê tông, 01 mái tôn (tôn thường), 01 nhà tạm (lợp Proximăng).
- Thửa đất số 120, tờ bản đồ 19, tại khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh đã được UBND thị xã Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 584818, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02570 ngày 06/11/2020 cho ông Vũ Thành L có diện tích hiện trạng 112,0m². Tứ cận của thửa đất: phía Tây giáp nhà bà Nguyễn Thị L2; phía Đông giáp nhà đường ngõ xóm; phía Bắc giáp đường khu; phía Nam giáp thửa đất 161 của anh Vũ Thanh L3; Tài sản trên đất: 01 nhà 2 tầng diện tích 95,5m², 02 trụ cổng, 01 tường rào.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về thụ lý vụ án.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 299, 357; 422; 465, 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP X (E) về việc chấm dứt các hợp đồng tín dụng và buộc ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, trường hợp không thực hiện ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến, quan điểm của đương sự và đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngân hàng TMCP X (E) khởi kiện ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H phải trả số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022. Xác định đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Bị đơn là ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H có địa chỉ tại: khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, đại diện của nguyên đơn và bị đơn ông Vũ Thành L có mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị H (ủy quyền cho chồng là anh Vũ Thành L) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị H.
[2] Về nội dung:
[2.1] Đối với các Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022 giữa Ngân hàng TMCP X (E) với ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H được ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng nêu trên có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ thời điểm ký kết. Khi tham gia ký kết hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản các bên đương sự có đủ năng lực, hành vi dân sự, bên cho vay đã thực hiện giao tài sản cho bên vay theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 465 Bộ luật Dân sự, bên vay cũng đã nhận đủ tiền.
Xét thấy các Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 thời hạn vay 180 tháng ( hết hạn vào ngày 17/11/2035) và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022, thời hạn vay 120 tháng (hết hạn vào ngày 25/01/2032). Theo khoản 3 Điều 465 – Nghĩa vụ của bên vay quy định: Không được yêu cầu bên vay trả tài sản trước hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật dân sự. Theo Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 thì thời hạn trả cuối cùng vào ngày 17/11/2035 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022 thì thời hạn trả cuối cùng vào ngày 25/01/2032, do đó nguyên đơn không có quyền đòi nợ trước hạn. Tuy nhiên, theo Điều 7 cơ cấu thời hạn trả nợ của các Hợp đồng tín dụng thì: Khi bên vay có bất kỳ vi phạm nào..., ngân hàng được quyền yêu cầu bên vay thực hiện các biện pháp cần thiết để khắc phục trong một thời gian hợp lý do ngân hàng quyết định. Trường hợp bên vay không khắc phục hoặc khắc phục không đầy đủ, ngân hàng sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết để thu hồi nợ (bao gồm cả việc khởi kiện, phát mại tài sản của bên vay đang ký quỹ, cầm cố, thế chấp tại ngân hàng, kể cả thu hồi nợ trước hạn). Khi thực hiện ngân hàng sẽ có thông báo cho bên vay; theo Điều 422 của Bộ luật Dân sự “Chấm dứt hợp đồng” tại khoản 2 quy định: Theo thỏa thuận của các bên, nhưng kể từ ngày 21/5/2023 ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và kể từ ngày 27/5/2023 ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022, do đó đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Điều 7 của Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết và khoản 1 Điều 95 Luật tín dụng quy định: Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng, nên Ngân hàng TMCP X (E) khởi kiện yêu cầu trả nợ toàn bộ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng và xử lý tài sản thế chấp của ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H để thu hồi nợ là có căn cứ.
Xét, nguyên đơn đề nghị Tòa án tuyên Chấm dứt các Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022 và yêu cầu bị đơn trả toàn bộ gốc và lãi thì căn cứ Điều 422 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 95 Luật tín dụng, thấy cần Chấm dứt các Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022 giữa Ngân hàng TMCP X (E) và ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H.
[2.2] Xét tính hợp pháp của các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0147/EIBQY- TDCN/TC/20 ngày 16/11/2020, công chứng số 1551, Quyển số 01.2020TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/11/2020 tại Văn phòng C tỉnh Quảng Ninh; Đăng ký giao dịch bảo đảm số 1955 ngày 16/11/2020 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Q và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0020/EIBQY- TDCN/TC/22 ngày 25/01/2022, công chứng số 293, Quyển số 01.2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/01/2022 tại Văn phòng C1; Đăng ký giao dịch bảo đảm số 270 ngày 25/01/2022 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thị xã Q, thì thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0147/EIBQY-TDCN/TC/20 ngày 16/11/2020 được ký kết tại Văn phòng C tỉnh Quảng Ninh ngày 16/11/2020, công chứng số 1551, Quyển số 01.2020TP/CC-SCC/HĐGD ngày 16/11/2020, giữa: Bên thế chấp ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H, Bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP X (E). Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CU 584818, số vào sổ cấp GCN: CH 02570 do UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 06/11/2020 cho ông Vũ Thành L và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0020/EIBQY- TDCN/TC/22 ngày 25/01/2022 được ký kết tại Văn phòng C1 ngày 25/01/2022, công chứng số 293, Quyển số 01.2022TP/CC-SCC/HĐGD ngày 25/01/2022, giữa: Bên thế chấp ông/bà Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H, Bên nhận thế chấp Ngân hàng TMCP X (E). Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DB 394411, số vào sổ cấp GCN: CH 02906 do UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/12/2021 cho ông Vũ Thành L, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, nên được chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, HĐXX thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP X (E) buộc bị đơn là vợ chồng ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP X (E) số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 27/9/2024 là 802.991.762 đồng; trong đó nợ gốc: 776.900.000 đồng; nợ lãi và lãi quá hạn: 36.091.761 đồng. Trường hợp ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H không trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo như các Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022, nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP X (E) có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xử lý tài sản bảo đảm của ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H theo quy định của pháp luật. Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ và các chi phí phát sinh khác thì ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H tiếp tục nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP X (E).
[3] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X (E) được chấp nhận nên bị đơn ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng TMCP X (E) số tiền 6.650.000 đồng mà Ngân hàng TMCP X (E) đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 15.000.000 đồng, trả lại Ngân hàng TMCP X (E) số tiền 8.350.000 đồng.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; điểm b, d khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 317, 318, 319, 320, 321, 323, 357, 422, 465 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP X (E).
- Chấm dứt các Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022, giữa Ngân hàng TMCP X (E) với ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H kể từ ngày 27/9/2022.
- Về nghĩa vụ trả nợ: Buộc ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng TMCP X (E) tổng số tiền tính đến ngày 27/9/2024, theo như các Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022 là: 802.991.762 đồng (Tám trăm linh hai triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, bẩy trăm sáu mươi hai đồng); (trong đó nợ gốc: 766.900.000 đồng; nợ lãi và lãi quá hạn: 36.091.761 đồng).
Kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo Quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Về xử lý tài sản bảo đảm: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP X (E) có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền 802.991.762 đồng (Tám trăm linh hai triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, bẩy trăm sáu mươi hai đồng) hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng số LAV200101022/1905, ngày 17/11/2020 và Hợp đồng tín dụng số LAV220008036/1905, ngày 25/01/2022 thì Ngân hàng TMCP X (E) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0147/EIBQY- TDCN/TC/20 ngày 16/11/2020 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất số 0020/EIBQY- TDCN/TC/22 ngày 25/01/2022. Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất số CU 584818 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02570 do UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/11/2020, có địa chỉ: khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đứng tên chủ sử dụng/sở hữu hợp pháp là ông Vũ Thành L và Quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản khác gắn liền với đất số DB 394411 số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 02906 do UBND thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 13/12/2021, có địa chỉ: khu A, phường Y, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đứng tên chủ sử dụng/sở hữu hợp pháp là ông Vũ Thành L, để thu hồi nợ.
Trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ và các chi phí phát sinh khác thì ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H tiếp tục nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP X (E) đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Về chi phí tố tụng: Ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.650.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng).
Ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm trả số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.650.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) cho Ngân hàng TMCP X (E). Trả lại cho Ngân hàng TMCP X (E) số tiền 8.350.000 đồng đã nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Kể từ ngày Ngân hàng TMCP X (E) có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong số tiền 6.650.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng), nếu ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H không trả đủ số tiền chi phí tố tụng thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí: Ông Vũ Thành L và bà Nguyễn Thị H phải chịu 36.089.752 đồng (Ba mươi sáu triệu, không trăm tám mươi chín nghìn, bẩy trăm lăm mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng TMCP X (E) số tiền tạm ứng án phí 11.605.678 đồng (Mười một triệu, sáu trăm linh năm nghìn, sáu trăm bẩy mươi tám đồng), theo biên lai số 0003909, ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt đại diện nguyên đơn - Ngân hàng TMCP X (E) và bị đơn ông Vũ Thành L, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; vắng mặt bị đơn bà Nguyễn Thị H báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Phúc Định |
Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 45/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Ngân hàng Eximbank) khởi kiện ông Vũ Thành Long, bà Nguyễn Thị Hồng
