Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. ĐÀ NẴNG

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45 /2024/KDTM-ST

Ngày 26.9.2024

V/v “tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Nga

Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Xoa - Ông Đặng Công Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Thu Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 12/2024/TLST-KDTM ngày 27 tháng 2 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST- KDTM ngày 04.9.2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QĐST-KDTM ngày 16.9.2024 giữa:

* Nguyên đơn: Công ty TNHH R. Địa chỉ: Số A, ngõ B Bằng B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hải H - Chức danh: Giám đốc. Địa chỉ liên lạc: TT3 - 16 phố K, phường V, quận L, thành phố Hà Nội. (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Bà Lưu Thị Thu H1. Địa chỉ: Số A L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn Công ty TNHH R trình bày:

Ngày 09/08/2023, người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH R – bà Nguyễn Thị Hải H có ký kết Hợp đồng hợp tác kinh doanh mỹ phẩm (sau đây gọi là “Hợp đồng”) với bà Lưu Thị Thu H1 là chủ hộ kinh doanh Spa Y. Lúc xác lập Hợp đồng có đầy đủ chữ ký của các bên. Theo Hợp đồng đã giao kết, tổng giá trị đơn hàng mà Công ty chúng tôi thỏa thuận giao cho bà H1 là 111.300.000 đồng.

Ngày 09/08/2023, chúng tôi đã nhận từ bà Lưu Thị Thu H1 số tiền 50.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty chúng tôi đã thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ giao hàng, cung cấp dịch vụ nhằm hỗ trợ cho bà H1 khai trương hộ kinh doanh S1. Đối với số tiền 61.300.000 đồng còn lại, bà H1 hẹn sẽ hoàn tất trả cho chúng tôi vào ngày 09/10/2023. Đến thời hạn trả tiền, vì chưa đủ khả năng thanh toán nên hai bên đã tiếp tục ký kết Hợp đồng gia hạn thực hiện nghĩa vụ, hạn cuối thanh toán số tiền 61.300.000 đồng vào ngày 09/12/2023.

Khi đến thời hạn thanh toán, chúng tôi đã nhiều lần liên hệ, trao đổi bằng điện thoại, nhắn tin, trực tiếp đến gặp mặt trao đổi để đề nghị bà H1 thanh toán và trả lại hàng hóa mà Công ty đã ký gửi cho bà H1. Sau đó chúng tôi đã gửi Thông báo số: 1011/2023/TB-ĐNTT ngày 10/11/2023 về việc “Đề nghị thanh toán” đến bà Lưu Thị Thu H1 với mong muốn bà H1 nghiêm túc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền giao hàng theo thỏa thuận. Tuy nhiên, cho đến nay đã quá thời hạn thanh toán nhưng bà H1 không hợp tác và không trả số tiền nêu trên cho Công ty chúng tôi.

Căn cứ khoản 2 Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015, quy định: “Nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ: Trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo thỏa thuận” và khoản 1 Điều 85 Luật Thương mại 2015, quy định: “Nghĩa vụ của khách hàng: Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng có các nghĩa vụ sau đây: Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng.” Việc bà Lưu Thị Thu H1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng là trái quy định pháp luật, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của Công ty chúng tôi, khiến Công ty phải chịu tổn thất về mặt kinh tế và uy tín.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, căn cứ các Điều 4, 30, 35, 39, 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 85 Luật Thương mại 2005 và căn cứ vào hồ sơ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn. Công ty TNHH R làm đơn khởi kiện gửi đến Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng với yêu cầu cụ thể như sau:

Tuyên buộc bà Lưu Thị Thu H1 (Chủ hộ kinh doanh Yumi Spa). Mã số đăng ký hộ kinh doanh: 32A8037614 đăng ký ngày 01/08/2023) có nghĩa vụ thanh toán số tiền 61.300.000 đồng cho Công ty TNHH R, đúng theo giao kết tại Hợp đồng hợp tác kinh doanh ký kết ngày 09/08/2023.

* Đối với bị đơn: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân quận Hải Châu đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Lưu Thị Thu H1 để lấy lời khai và tham gia hoà giải nhưng bà Lưu Thị Thu H1 vắng mặt không có lý do và cũng không gửi ý kiến, nên không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đảm bảo các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ quy định khoản 2 Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH R, buộc bà Lưu Thị Thu H1 phải trả cho Công ty TNHH R số tiền 61.300.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH R yêu cầu bà Lưu Thị Thu H1 (chủ Hộ kinh doanh Yumi Spa) có địa chỉ tại số A L, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng nên Tòa án nhân dân quận Hải Châu thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do nên HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[1.3] Đối với bị đơn: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng phía bị đơn không có ý kiến trực tiếp hay gửi văn bản cho Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia phiên họp và phiên hòa giải. Điều này cho thấy bị đơn đã tự từ chối quyền được trình bày để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như trình bày ý kiến để phản đối về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như công nhận những tình tiết, sự kiện và tài liệu do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập có giá trị dùng làm chứng cứ để giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 93, Điều 95 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH R về việc buộc bà Lưu Thị Thu H1 thanh toán số tiền 61.300.000 theo Hợp đồng hợp tác kinh doanh ký kết ngày 09/08/2023, Hội đồng xét xử thấy:

Thỏa thuận giữa Công ty TNHH R và bà Lưu Thị Thu H1 tại Hợp đồng hợp tác kinh doanh mỹ phẩm ngày 09/8/2023 được giao kết trên cơ sở tự nguyện, tại thời điểm giao kết mục đích và nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội, hoàn toàn phù hợp theo quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 398, Điều 401 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, hợp đồng nêu trên là hợp pháp, các bên tham gia giao kết đều có quyền, nghĩa vụ như nhau khi tham gia giao kết nên phải có nghĩa vụ thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng.

Theo nội dung Hợp đồng thì Công ty TNHH R đã cung cấp dịch vụ nhằm hỗ trợ bà Lưu Thị Thu H1 khai trương Hộ kinh doanh Yumi S và giao hàng là mỹ phẩm với tổng giá trị đơn hàng là 111.300.000 đồng. Về phương thức thanh toán: Bà Lưu Thị Thu H1 sẽ trả trước 55.650.000 đồng vào ngày 09.8.2023 và tất toán số tiền còn lại sau 2 tháng kể từ ngày nhập hàng (ngày 09.10.2023). Ngày 09/08/2023, bà Lưu Thị Thu H1 đã giao số tiền 50.000.000 đồng cho Công ty TNHH R. Ngày 09.10.2023, hai bên ký kết Hợp đồng, gia hạn thời gian thanh toán số tiền 61.300.000 đồng đến ngày 09/12/2023. Tuy nhiên đến nay, bà Lưu Thị Thu H1 vẫn chưa thanh toán cho Công ty TNHH R số tiền còn lại nêu trên. Như vậy, bà Lưu Thị Thu H1 đã vi phạm nghĩa vụ về thời hạn thanh toán theo thỏa thuận của các bên tại Điều 1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh mỹ phẩm ngày 09.10.2023. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 515 Bộ luật Dân sự 2015, khoản 1 Điều 50 Luật thương mại thì yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH R là có cơ sở để chấp nhận.

Từ những căn cứ và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH R. Buộc bà Lưu Thị Thu H1 phải trả cho Công ty TNHH R số tiền 61.300.000 đồng.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[4]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về thủ tục tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 91, Khoản 2 Điều 92; Điều 93, Điều 95, Khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271, Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 398, Điều 401 khoản 2 Điều 515 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 1 Điều 50 Luật thương mại

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH R đối với bà Lưu Thị Thu H1.

    Buộc bà Lưu Thị Thu H1 thanh toán cho Công ty TNHH R số tiền là 61.300.000 đồng (sáu mươi mốt triệu, ba trăm nghìn đồng).

    Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày Công ty TNHH R có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng bà Lưu Thị Thu H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: bà Lưu Thị Thu H1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 3.065.000 đồng (ba triệu, không trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

    Hoàn trả cho Công ty TNHH R số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm là 1.532.500 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000263 ngày 23/2/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

  3. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát quận Hải Châu;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THASDS quận Hải Châu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hà Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45 /2024/KDTM-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ

  • Số bản án: 45 /2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH R đối với bà Lưu Thị Thu H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger