Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 26 – 9 – 2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Tấn Liêm.
Ông Lê Quốc Thới.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vui – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng Mơ - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị M, sinh năm 1994 tại huyện C, tỉnh Cà Mau. Nơi cư trú: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; chồng: Trần Thanh T2, con: Chưa có; tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 06/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 24/8/2023 và đã nộp xong tiền án phí, tiền sự: Không; khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 21/6/2024; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Trần Thanh T2, sinh năm: 1990; cư trú tại: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  2. Ông Huỳnh Vĩnh N, sinh năm: 2008; cư trú tại: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  3. Ông Võ Thanh G, sinh năm: 1993; cư trú tại: Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  4. Ông Phạm Hải Đ, sinh năm: 1988; cư trú tại: ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  5. Bà Võ Thúy H, sinh năm: 1988; cư trú tại: Số B, Tổ B, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
  6. Bà Trần Ái V, sinh năm: 1994; cư trú tại: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Qua kết quả điều tra xác định được Nguyễn Thị M có một tiền án về tội “Đánh bạc” bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2023/HS-ST ngày 06/3/2023, M đã chấp hành xong hình phạt vào ngày 24/8/2023. Chưa được xóa thì M tiếp tục vi phạm, cụ thể:

Vào khoảng 13 giờ ngày 16/02/2024, Nguyễn Thị M, Trần Ái V, Võ Thúy H, Phạm Hải Đ, Võ Thanh G và Huỳnh Vĩnh N đến nhà bà Nguyễn Thị K ở ấp B, xã Đ, huyện C để đưa tiễn chị H và anh G đi làm thuê ở tỉnh Đồng Nai. Tại đây tất cả rủ nhau cùng chơi đánh bài ăn thua bằng tiền, hình thức loại bài binh ấn độ 06 lá, bỏ lá bài hình tây, có 04 tụ trong đó gồm 01 tụ thủ cái, 03 tụ tay em trực tiếp ăn thua với tụ thủ cái, số tiền đặt cược mỗi ván ít nhất 10.000 đồng đến cao nhất là 100.000 đồng. H và G thay phiên nhau thủ cái cho M, V, Đ, N cá cược ăn tiền. Vị trí bên phải tụ của H và G là vị trí tụ của N, vị trí bên trái tụ của H và G là vị trí tụ của Đ, V ngồi ké tại vị trí tụ của Đ, còn M ngồi tụ đối diện với H và G. Tất cả chơi liên tiếp từ khoảng 13 giờ 20 phút đến 14 giờ 20 phút cùng ngày, khi ván bài cuối cùng vừa mới chia bài, chưa đặt cược thì bị lực lượng Công an xã Đ, huyện C phát hiện và bắt quả tang.

Tại hiện trường thu giữ: 01 bộ bài tây 35 lá đã qua sử dụng và số tiền thu tại chiếu bạc là 1.500.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ trên người Nguyễn Thị M số tiền 2.700.000 đồng, Võ Thúy H số tiền 109.000 đồng, Phạm Hải Đ số tiền 1.508.000 đồng và Trần Ái V số tiền 116.000 đồng.

Quá trình điều tra chứng minh được: Tổng số tiền thu giữ tại hiện trường và trên người Nguyễn Thị M, Võ Thúy H, Phạm Hải Đ và Trần Ái V là 5.933.000 đồng. Trong đó, số tiền thu tại chiếu bạc là 1.500.000 đồng và số tiền thu giữ trên người Võ Thúy H 109.000 đồng, Phạm Hải Đ 1.508.000 đồng và Trần Ái V 116.000 đồng. Đối với số tiền 2.700.000 thu giữ trên người của Nguyễn Thị M trong đó có 800.000 đồng là tiền Mi đánh bạc thắng có được, còn 1.900.000 đồng là tiền M mang theo để mua đồ dùng trong gia đình, không nhằm mục đích đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc được xác định là 4.033.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 (một) bộ bài tây 35 lá đã qua sử dụng.
  • - Số tiền thu giữ trên người Võ Thúy H 109.000 đồng, Phạm Hải Đ 1.508.000 đồng và Trần Ái V 116.000 đồng đã được tịch thu theo Quyết định xử phạt hành chính số 09, 10 và 11/ QĐ-XPHC cùng ngày 23/02/2024 của Công an xã Đ
  • - Gửi Kho bạc huyện C số tiền 4.200.000 đồng là tiền thu tại chiếu bạc và tiền thu giữ trên người Nguyễn Thị M.

Tại Cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền dùng để đánh bạc là 2.300.000 đồng.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây 35 lá đã qua sử dụng.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị M số tiền Việt Nam là 1.900.000 đồng.

Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo thống nhất với bản luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo trình bày lời nói sau cùng là xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị M thừa nhận hành vi vi phạm như sau: Ngày 06/3/2023, Nguyễn Thị M bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 24/8/2023, chưa được xóa. Đến khoảng 14 giờ 20 phút ngày 16/02/2024 bị cáo M tiếp tục tham gia đánh bài ăn, thua bằng tiền loại bài binh ấn độ 06 lá tại nhà bà Nguyễn Thị K ở ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau, các đối tượng tham gia đánh bài ăn tiền gồm: Nguyễn Thị M, Trần Ái V, Võ Thúy H, Phạm Hải Đ, Võ Thanh GHuỳnh Vĩnh N, sau đó bị bắt quả tang. Tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 4.033.000 đồng. Trong đó, số tiền thu tại chiếu bạc là 1.500.000 đồng và số tiền thu giữ trên người Võ Thúy H 109.000 đồng, Phạm Hải Đ 1.508.000 đồng và Trần Ái V 116.000 đồng. Đối với số tiền 2.700.000 thu giữ trên người của Nguyễn Thị M trong đó có 800.000 đồng là tiền Mi đánh bạc thắng có được, còn 1.900.000 đồng là tiền M mang theo để mua đồ dùng trong gia đình, không nhằm mục đích đánh bạc. Tuy số tiền đánh bạc không lớn (dưới 5.000.000 đồng), nhưng bị cáo Nguyễn Thúy M1 có tiền án về tội “Đánh bạc”, nên hành vi vi phạm của bị cáo M1 lần này đã đủ cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo M1 đã vi phạm pháp luật hình sự; trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an của địa phương.

Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo M1 có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi đánh bài ăn, thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện.

Với hành vi như đã nêu trên, bị cáo Nguyễn Thị M đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, có căn cứ kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Nước truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng quy định pháp luật, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất an ninh tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo đã thực hiện để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo để trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử có xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Từ những phân tích nêu trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với Trần Ái V, Võ Thúy H, Phạm Hải Đ, Võ Thanh GHuỳnh Vĩnh N do số tiền đánh bạc chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an xã Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với bà Nguyễn Thị K không biết Nguyễn Thị M, Trần Ái V, Võ Thúy H, Phạm Hải Đ, Võ Thanh G và Huỳnh Vĩnh N đánh bài ăn, thua bằng tiền nên không đề cặp xử lý là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với các vật chứng của vụ án dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) bộ bài tây 35 lá đã qua sử dụng.

Đối với vật chứng liên quan đến tội phạm nên tịch thu sung quỹ Nhà nước gồm: Số tiền đánh bạc 2.300.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị M số tiền Việt Nam là 1.900.000 đồng.

Đối với số tiền dùng vào việc đánh bạc thu giữ trên người Võ Thúy H 109.000 đồng, Phạm Hải Đ 1.508.000 đồng và Trần Ái V 116.000 đồng đã được tịch thu theo Quyết định xử phạt hành chính số 09, 10 và 11/ QĐ-XPHC cùng ngày 23/02/2024 của Công an xã Đ là phù hợp nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây 35 lá (đã qua sử dụng).
    • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền đánh bạc 2.300.000 đồng.
    • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị M số tiền Việt Nam là 1.900.000 đồng.

    (Số vật chứng này, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước đang quản lý theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/9/2024; số tiền 4.200.000 đồng hiện đang ký gửi tại Kho bạc huyện C theo giấy nộp tiền ngày 28/6/2024)

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước khi án có hiệu lực pháp luật.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo M và ông T2 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Công an huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Cà Mau;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 06 (sáu) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger