|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24-9-2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hồng Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Hoà
- Bà Trà Thị Lệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Lệ Quân- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2024/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 138/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;
Bị đơn: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1994
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi;
Địa chỉ tạm trú: Khu phố C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre.
Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 22/02/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:
Anh và chị Bùi Thị H tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thị xã Đ vào năm 2012. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng từ năm 2018 thì vợ chồng anh phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Đến năm 2019, anh và chị H sống ly thân, chị H về sống với ba mẹ của chị H ở TP, sau đó đến tỉnh Bến Tre để làm ăn sinh sống cho đến nay; còn anh sống tại nhà cha mẹ ở thị xã Đ. Nay tình cảm vợ chồng đã không còn. Do đó anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.
Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Phú L sinh ngày 24/11/2011 và Nguyễn Ngọc Thành T1 sinh ngày 20/01/2016. Từ khi ly thân thì cháu Nguyễn Ngọc Phúc L1 sống với anh, còn cháu Nguyễn Ngọc Thành T1 sống với chị Bùi Thị H. Do đó khi ly hôn anh yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu L1; giao con Nguyễn Ngọc Thành T1 cho chị H nuôi dưỡng, giáo dục. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Tú khai không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Bùi Thị H trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ anh T ở Đ. Tuy nhiên từ năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh T không hiểu và không yêu thương vợ. Đến năm 2019 thì chị và anh T không thể tiếp tục chung sống nên chị đã vào thành phố Hồ Chí Minh, sau đó đến Bến Tre sống cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên anh T yêu cầu ly hôn chị đồng ý.
Về con chung: vợ chồng chị có hai con chung như anh T trình bày. Khi ly hôn chị đồng ý giao cháu Nguyễn Ngọc Phúc L1 cho anh T nuôi, còn chị nuôi cháu Nguyễn Ngọc Thành T1.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Văn T, cho anh T được ly hôn chị Bùi Thị H. Về con chung: giao cháu Nguyễn Ngọc Phúc L1 cho anh T nuôi dưỡng, còn cháu Nguyễn Ngọc Thành T1 giao cho chị H nuôi dưỡng; tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Bùi Thị H ở tổ dân phố D, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về tố tụng: Bị đơn chị Bùi Thị H vắng mặt nhưng đã có đơn xin giải quyết vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị H.
[3] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn T và chị Bùi Thị H tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại Ủy ban nhân dân phường N, thị xã Đ, do vậy quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H là hoàn toàn hợp pháp. Trong thời gian chung sống giữa anh T và chị H xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn tuy không lớn nhưng kéo dài mà không có cách khắc phục. Anh T2 và chị H đã sống ly thân từ năm 2019, hiện nay phần ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh T2 và chị H đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T2, cho anh T2 được ly hôn chị H.
[4] Về con chung: Anh Tú và chị H có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Phú L sinh ngày 24/11/2011 và Nguyễn Ngọc Thành T1 sinh ngày 20/01/2016, khi ly hôn anh T2 và chị H đều thống nhất để cháu L cho anh T2 nuôi, còn cháu T1 giao cho chị H nuôi. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu L và cháu T1 đêu đã trên 7 tuổi, cháu L có nguyện vọng là được sống với cha, cháu T1 có nguyện vọng sống với mẹ. Hiện tại cháu L đang ở với anh T2, cháu T1 đang ở với chị H. Do đó để đảm bảo điều kiện về mọi mặt cho cháu L và cháu T1, Hội đồng xét xử giao cháu L cho anh T2, giao cháu T1 cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Không bên nào phải cấp dưỡng cho con.
[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh Tú và chị H khai không có.
[6] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội,
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Bùi Thị H.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Phúc L1, sinh ngày 24/11/2011 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, còn cháu Nguyễn Ngọc Thành T1, sinh ngày 20/01/2016 giao cho chị Bùi Thị H nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001780 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được quyền cản trở.
Về nợ chung: Anh Tú và chị H khai không có.
Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND thị xã Đức Phổ; - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ; - Các đương sự; - UBND phường Nguyễn Nghiêm; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hồng Mỹ |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho anh T được ly hôn chị H
