|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/9/2024 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Như Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới.
Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Đức Trọng là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 62/2024/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QÐST - HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/QÐST - HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hoài A; địa chỉ: khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Anh Phạm Văn H; địa chỉ: khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Thị Hoài A trình bày:
Về tình cảm: ngày 19 tháng 12 năm 2005, chị Bùi Thị Hoài A tự nguyện đăng ký kết hôn với anh Phạm Văn H tại Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022, khi ly thân anh chị vẫn sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Mặc dù đã được hai bên gia đình can ngăn, hòa giải và hàn gắn nhưng không có kết quả. Đến nay chị Bùi Thị Hoài A xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và không thể khắc phục được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn H để ổn định cuộc sống.
Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 03 con chung tên là Phạm Thu H1, sinh ngày 16/6/2006; Phạm Mai T, sinh ngày 10/7/2013 và Phạm Minh T1, sinh ngày 24/5/2019. Khi ly hôn, chị đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phạm Mai T và cháu Phạm Minh T1 và yêu cầu anh H cấp dưỡng với số tiền 1.500.000 đồng/tháng đối với một con chung. Cháu H1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, chị Hoài A thay đổi quan điểm về cấp dưỡng nuôi con. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng anh chị có tài sản chung, có khoản nợ chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản làm việc ngày 21/6/2024, bị đơn anh Phạm Văn H có quan điểm như sau:
Về tình cảm: ngày 19 tháng 12 năm 2005, anh Phạm Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn với chị Bùi Thị Hoài A tại Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do về vấn đề kinh tế trong gia đình, nợ nần nhiều chỗ dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022, khi ly thân anh chị vẫn sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Mặc dù đã được hai bên gia đình can ngăn, hòa giải và hàn gắn nhưng không có kết quả. Hiện nay chị Bùi Thị Hoài A làm đơn khởi kiện tại Tòa án đề nghị ly hôn thì anh không đồng ý ly hôn, anh muốn được tiếp tục chung sống để cùng nhau vực dậy kinh tế, nuôi dạy con cái.
Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 03 con chung tên là Phạm Thu H1, sinh ngày 16/6/2006; Phạm Mai T, sinh ngày 10/7/2013 và Phạm Minh T1, sinh ngày 24/5/2019. Nếu phải ly hôn, anh đề nghị chị Hoài A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các cháu Phạm Mai T và cháu Phạm Minh T1. Anh H không cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu H1 đã thành niên nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: vợ chồng anh chị có tài sản chung, có khoản nợ chung nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản xác minh tại địa phương ngày 24/5/2024 như sau:
Ông Ngô Xuân L (phó trưởng khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh) cho biết: Anh Phạm Văn H và chị Bùi Thị Hoài A tự nguyện kết hôn và có đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh năm 2005. Sau khi kết hôn, anh chị về chung sống tại khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn nhưng nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể ông không nắm rõ do anh chị không hòa giải tại địa phương. Quá trình chung sống anh H và chị Hoài A có 03 con chung là con chung là Phạm Thu H1, sinh ngày 16/6/2006; Phạm Mai T, sinh ngày 10/7/2013 và Phạm Minh T1, sinh ngày 24/5/2019. Hiện nay, cháu H1 đã thành niên còn cháu T và cháu T1 đang sinh sống cùng với anh chị tại địa phương. Về tài sản chung và khoản nợ chung của anh H và chị Hoài A ông không nắm rõ. Nay chị Hoài A làm đơn khởi kiện xin ly hôn thì đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ý kiến cháu Phạm Mai T: cháu mong muốn được ở với mẹ cháu bởi cảm thấy mẹ quan tâm, chăm sóc hơn, có nhiều thời gian dành cho cháu hơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 196, 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử và Thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Hoài A về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về quan hệ tranh chấp: Chị Bùi Thị Hoài A có đơn khởi kiện đề nghị được ly hôn với anh Phạm Văn H. Bị đơn có nơi cư trú tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]Về thủ tục tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án tiến hành tống đạt các tài liệu, quyết định tố tụng của Tòa án cho các đương sự; tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải theo đúng trình tự và thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Tại các buổi làm việc và tại phiên tòa, bị đơn đều vắng mặt không có lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
[3]Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn H và chị Bùi Thị Hoài A đăng ký kết hôn với nhau ngày 19/12/2005 tại Ủy ban nhân dân phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị về chung sống với nhau tại khu C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh chị bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Hiện nay, anh chị sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống riêng của ai. Sau khi ly thân, anh chị đã được hai bên gia đình nhiều lần hòa giải nhưng không thành. Như vậy, thực tế cuộc hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích chung sống không đạt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, yêu cầu của chị Bùi Thị Hoài A đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn H có căn cứ pháp luật, cần chấp nhận.
[4]Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 03 con chung tên là Phạm Thu H1, sinh ngày 16/6/2006; Phạm Mai T, sinh ngày 10/7/2013 và Phạm Minh T1, sinh ngày 24/5/2019. Cháu H1 hiện đã thành niên còn cháu T và cháu T1 hiện đang ở cùng anh chị tại địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị Hoài A thể hiện nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Phạm Minh T1 và cháu Phạm Mai T do cháu T1 còn nhỏ và yêu cầu anh H cấp dưỡng số tiền 1.500.000 đồng/tháng đối với một cháu. Anh H có quan điểm đề nghị chị Hoài A nuôi dưỡng cháu T1 và cháu T, anh H không cấp dưỡng nuôi con chung. Mặt khác, cháu Phạm Mai T có nguyện vọng được ở với chị Hoài A. Tại phiên tòa, chị Hoài A thay đổi quan điểm về cấp dưỡng nuôi con. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng của chị Bùi Thị Hoài A có căn cứ pháp luật nên cần chấp nhận.
[5]Về tài sản chung và nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
[6]Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị Hoài A là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Bùi Thị Hoài A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Hoài A được ly hôn với anh Phạm Văn H.
2. Về con chung: Chị Bùi Thị Hoài A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Phạm Minh T1, sinh ngày 24/5/2019 và Phạm Mai T, sinh ngày 10/7/2013 kể từ tháng 9 năm 2024 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Phạm Văn H có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật. Chị Hoài A cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về án phí: Chị Bùi Thị Hoài A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0003523 ngày 05/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Chị Bùi Thị Hoài A đã nộp đủ tiền án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Hoài A có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Như Quỳnh |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thi Hoài A - Phạm Văn H
