Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 9 -2024

V/v "Ly hôn, nuôi con chung".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Dung

Ông Đinh Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:

Bà Đỗ Thị Thu Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 về việc ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXX-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Trần Văn G, sinh năm 1990.

    Nơi thường trú: Tổ F, khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. (Có đơn xin vắng mặt)

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986.

    Nơi thường trú: Xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Hiện ở Đài Loan (Xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Trần Văn G trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (nay là phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước, Việt Nam. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống hòa thuận, hạnh phúc và làm ăn tại xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cãi vã với nhau. Năm 2022 chị T đi lao động xuất khẩu tại Đài Loan, từ khi đi đến nay không liên lạc, anh không biết tin tức gì của chị T. Hiện nay anh G đã trở về quê ở phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước làm ăn sinh sống. Nay mỗi người sống ở một nơi, không ai quan tâm đến ai, anh xác định tình cảm không còn, đời sống chung cũng không thể tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Trần Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/7/2010, Trần Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/11/2011 và Trần Nguyễn Khánh L, sinh ngày 09/5/2015. Hiện nay cháu H và cháu L đang ở cùng với anh G, cháu B đang ở với bố mẹ đẻ của chị T. Khi ly hôn anh G xin được nuôi 02 con chung là Trần Nguyễn Gia H và Trần Nguyễn Khánh L, chị T nuôi cháu Trần Nguyễn Gia B. Về cấp dưỡng: Anh G không đề nghị chị T cấp dưỡng.

Tại biên bản làm việc ngày 14/8/2024 giữa Tòa án và bà Lê Thị L1, sinh năm 1961, địa chỉ: Xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên dưới sự chứng kiến của trưởng xóm, bà L1 xác định: Chị T là con gái của bà, bà không biết địa chỉ hiện nay của chị T ở Đài Loan nên không thể cung cấp cho Tòa án. Chị T thường xuyên liên lạc với bà qua điện thoại và tại buổi làm việc, bà gọi trực tiếp cho chị T, ý kiến của chị T đối với yêu cầu xin ly hôn của anh G như sau: Chị T xác định lời khai của anh G về quan hệ hôn nhân là đúng, chị đi làm việc tại Đài Loan từ cuối tháng 9 năm 2022 và chưa về Việt Nam lần nào. Chị xác định không còn tình cảm với anh G, anh G đã sống chung như vợ chồng với người khác từ tháng 6 năm 2023 cho tới nay ở tỉnh Bình Phước. Nay anh G làm đơn ly hôn, chị nhất trí ly hôn với điều kiện anh G đồng ý để chị T trực tiếp chăm sóc 02 con là cháu Trần Nguyễn Gia B và Trần Nguyễn Khánh L, chị không yêu cầu anh G cấp dưỡng. Trong trường hợp anh G không nhất trí để chị nuôi cháu B và cháu L thì chị không đồng ý ly hôn. Nếu anh G không nuôi cháu Trần Nguyễn Gia H hoặc cháu H muốn ở với chị T thì chị nhất trí nuôi 03 con chung, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện nay chị đang ở Đài Loan nên chị ủy quyền cho mẹ đẻ của chị là bà Lê Thị L1 trực tiếp chăm sóc các con chung của chị và anh G đến khi chị trở về Việt Nam. Về tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Hiện nay, do chị T đang ở nước ngoài nên chị T không thể về Việt Nam trực tiếp giải quyết và có nguyện vọng xin được xét xử vắng mặt.

Tại buổi làm việc cùng ngày và đơn trình bày của bà L1 xác định cháu Trần Nguyễn Gia B đang sinh sống cùng bà tại xóm X, xã Đ, thành phố T. Chị T ủy quyền cho bà chăm sóc cháu B và cháu L trong thời gian chị T ở nước ngoài, bà L1 nhất trí.

Tại bản tự khai bổ sung của anh G, anh có ý kiến về phần con chung: Sau khi biết ý kiến của chị T về việc được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Nguyễn Gia B và Trần Nguyễn Khánh L, nếu chị T có điều kiện nuôi dưỡng hai con chung thì anh G đồng ý, không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Văn G là nguyên đơn đang cư trú tại Tổ F, khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, Việt Nam. Chị Nguyễn Thị T trước khi đi Đài Loan có nơi thường trú tại xóm X, xã Đ, thành phố T, Việt Nam. Theo công văn số 3331/PQLNXC(Đ1)ngày 12/8/2024 của Phòng Q Công an tỉnh T xác định chị Nguyễn Thị T đã được cấp hộ chiếu và đã xuất cảnh ngày 29/9/2022 qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Anh G và chị T đều đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa anh Trần Văn G và chị Nguyễn Thị T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C (nay là phường M, thị xã C), tỉnh Bình Phước, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì năm 2022 chị T sang nước ngoài làm việc, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đã sống xa cách nhau, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Anh G xin ly hôn, chị T nhất trí. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy, có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Trần Văn G và chị Nguyễn Thị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai anh chị đều nhất trí ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh G, cho anh G được ly hôn với chị Nguyễn Thị T là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

[3] Về con chung: Anh Trần Văn G và chị Nguyễn Thị T có 03 con chung là Trần Nguyễn Gia B, sinh ngày 05/7/2010, Trần Nguyễn Gia H, sinh ngày 14/11/2011 và Trần Nguyễn Khánh L, sinh ngày 09/5/2015. Hội đồng xét xử thấy, cháu Trần Nguyễn Gia H hiện nay đang ở cùng anh G, anh có nguyện vọng được nuôi cháu H, chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Trần Nguyễn Gia B và Trần Nguyễn Khánh L, anh G nhất trí. Hiện nay chị đang ở Đài Loan, tuy nhiên, chị T có ý kiến ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Lê Thị L1 trực tiếp chăm sóc các con chung, bà L1 nhất trí, do vậy để đảm bảo điều kiện tốt nhất cho con chung khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử giao con chung Trần Nguyễn Gia H cho anh G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao cháu Trần Nguyễn Gia B và Trần Nguyễn Khánh L cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng (người được uỷ quyền là bà Lê Thị L1) là mẹ đẻ chị T, sinh 1961, địa chỉ tại Xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu B và cháu L cho đến khi chị T về nước là phù hợp với thực tế, đảm bảo đúng các quy định tại Điều 81; 82; 83 của Luật hôn nhân gia đình Việt Nam.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung do các bên không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh G và chị T không yêu cầu giải quyết. Hội đồng xét xử không giải quyết.

Án phí: Anh G phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về đường lối giải quyết vụ án được đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 147; Điều 207; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83 Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trần Văn G đối với chị Nguyễn Thị T.

  1. Về hôn nhân: Cho anh Trần Văn G được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
  2. Về con chung: Giao con chung Trần Nguyễn Gia H sinh ngày 14/11/2011 cho anh Trần Văn G trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
  3. Giao con chung Trần Nguyễn Gia B sinh ngày 05/7/2010 và Trần Nguyễn Khánh L sinh ngày 09/5/2015 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác (người được uỷ quyền là bà Lê Thị L1 (mẹ đẻ chị T), sinh 1961, địa chỉ tại Xóm X, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu B và cháu L cho đến khi chị T về nước). Các bên có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Anh G và chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.

  4. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có và không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. Án phí: Anh Trần Văn G phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000112 ngày 06/8/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Anh Trần Văn G được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - UBND phường M;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(đã ký)

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tran van g vs nguyen thi t
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger