|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 45/2024/DS-ST Ngày: 17-9-2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Chí;
Ông Bùi Quý Khiêm;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Trung Đến - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30 tháng 8, ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2023/TLST- DS ngày 27/10/2023, về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Công K, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1996;
Địa chỉ: Đường T, khóm C, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Võ Thị Băng G là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ;
Địa chỉ: Số B, N, khóm M, thị trấn M, huyện C, Đồng Tháp
- Bị đơn: Nguyễn Thị P, sinh năm 1941;
Địa chỉ: Số A, tổ E, khóm E, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp: Ông Thái Quang T, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Số B, đường N, khóm A, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Thu Đ, sinh năm 1961.
- Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1985.
- Nguyễn Công K1, sinh năm 1987.
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
4. Ủy ban nhân dân thành phố C.
Địa chỉ: Số C, đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông K, ông T, bà Đ có mặt; bà G, chị V, anh K1, đại diện UBND thành phố C vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Công K và người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày:
Nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Văn T1 (là cha ông Kết), vào năm 1985 ông T1 có cho chị ông K bà Nguyễn Thị P đứng ra để giữ dùm phần đất ttranh chấp (do tập đoàn Q thời điểm đó phải có người giữ đất, nếu không ai canh tác thì tập đoàn giao người khác), khi đó bà P không canh tác mà bà Nguyễn Thị P1 (là chị thứ 3 của ông K) canh tác được 02 năm thì bỏ hoang. Năm 1989 cha ông Kết là ông T1 kêu ông K đóng thuế đóng lúa cho tập đoàn rồi lấy đất lại canh tác nên ông K đóng lúa 1.500kg lúa cho tập đoàn nên đến 1990 tập đoàn giao đất cho ông K canh tác và ông K đã cải tạo đất nhiều lần và quản lý sử dụng đất cho đến nay. Đến năm 2016 bà P kêu ông Nguyễn Văn T2 cấm ranh nhưng ông T2 không đồng ý, vì đất này ông K chuộc lại từ tập đoàn là của ông K không phải đất của bà P.
Việc bà P được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 242, diện tích 3.480m², tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại xã M, thành phố C ngày 12/6/1996 nhưng ông K không biết bởi vì thửa đất này nằm trong thửa đất lớn của ông K đang quản lý, sử dụng nên ông K không biết.
Nay ông Nguyễn Công K yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 3.480m² theo đo đạc thực tế là 3.358,3m² thuộc thửa đất số 242 (thửa mới là 649, 663), tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do Ủy ban nhân dân thị xã C (nay là thành phố C) cấp cho Nguyễn Thị P ngày 12/6/1996 và để cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Công K đứng tên đối với diện tích đất nêu trên, do ông K là người quản lý, sử dụng ổn định từ năm 1990 cho đến nay. Ngoài ra ông K không yêu cầu gì thêm.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị P và người đại diện hợp pháp ông Thái Quang T trình bày:
Nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Văn T1 (là cha ông Kết, bà P), cho bà Nguyễn Thị P năm 1986. Do gia đình bà P mua bán ở chợ T6 nên cho em bà P là Nguyễn Thị P1 canh tác 02 năm, do đất nằm sau hậu nên bà P1 trả lại đất. Đến 1990 bà P cho em là Nguyễn Công K sử dụng vì đất liền kề đất của cha bà P là ông T1, do chị em trong gia đình nên bà P cho ông K mượn sử dụng.
Nay bà Nguyễn Thị P yêu cầu ông Nguyễn Công K cùng các thành viên trong hộ gồm Nguyễn Thị Thu Đ, Nguyễn Thị Hồng V, Nguyễn Công K1 di dời cây cối và tài sản để giao trả diện tích đất theo đo đạc thực tế là 3.358m² thuộc thửa 242, tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc tại xã M, thành phố C, do Ủy ban nhân dân thị xã C (nay là thành phố C) cấp cho bà Nguyễn Thị P, cho bà P quản lý, sử dụng.
Ngoài ra bà P không yêu cầu gì thêm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thu Đ trình bày:
Thống nhất yêu cầu và trình bày của ông Nguyễn Công K, ngoài ra không yêu cầu gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Hồng V, anh Nguyễn Công K1 trình bày:
Không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân Thành phố C cung cấp thông tin:
Ủy ban nhân dân đề nghị Tòa án yêu cầu Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C cung cấp thông tin về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Căn cứ vào tài liêu thu thập để giải quyết vụ án, Ủy ban ND không có ý kiến đối với nội dung Tòa án yêu cầu; không có ý kiến đối với nội dung hủy giấy.
Tại phiên tòa sơ thẩm có mặt chị L, Luật sư B, bà Đ, ông T. Ngoài ra các đương sự đều khẳng định không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm; không yêu cầu Hội đồng xét xử thu thập thêm chứng cứ gì khác.
Chị L trình bày: Căn cứ vào việc ông K, bà Đ trả 1.500 kg cho Tập đoàn để nhận nhận lại đất canh tác theo ý kiến cha mẹ là ông T1, bà D. Bà P đăng ký quyền sử dụng đất nhưng không có sử dụng đất. Đất ông K, bà Đ sử dụng từ năm 1990 đến nay 2021 không có tranh chấp. Ông T2, ông Đ1 đã xác nhận việc đứng tên quyền sử dụng đất giúp cho ông T1 chứ không phải là cho luôn bà P. Lời khai của anh T3 là không phù hợp thực tế. Do đó đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông K, bà Đ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà P để cấp quyền sử dụng đất cho ông K, bà Đ.
Luật sư Băng G trình bày: Về nguồn gốc đất các đương sự đã thống nhất đất là của ông T1. Ông T1 có nhờ ông T2, ông Đ1, bà P đứng tên quyền sử dụng đất giúp do bị tịch thu rồi phần chia đất cho người khác. Sau đó ông T2, ông Đ1 đã trả lại đất cho ông T1. Ông K là người phải trả 1.500kg lúa và sử dụng đất từ năm 1990 đến năm 2021 mới phát sinh tranh chấp. Quá trình sử dụng đất theo lời trình bày ông K phù hợp với lời khai người làm chứng ông M, ông M1, ông S đại diện địa phương đã trình bày. Bà P đi đăng ký quyền sử dụng đất thì ông K, ông T1 không biết. Việc bà P cho rằng được cho đất và cho bà P1 mượn đất nhưng lời khai của bà H, bà N không xác định được việc cho đất. Nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K.
Ông T trình bày: Đất của ông T1. Các anh em công nhận bà P được cho đất và đăng ký quyền sử dụng đất. Ông K thừa nhận bà P được cho đất; ông K không có quyết định nào của tập đoàn, Ủy ban nào cấp lại đất cho ông K. Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà P nên yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K; buộc ông K2 phải trả đất cho bà P.
Bà Đ trình bày: Đất vợ chồng tôi canh tác đã rất lâu, giá trị đất lúc này rất thấp vợ chồng tôi phải trả nợ lúa 1.500kg để nhận lại đất canh tác. Lời khai của anh T3 là không đúng vì anh T3 từ trước đến nay không có sử dụng phần đất tranh chấp nên yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất này cho vợ chồng tôi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng; phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông K; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị P; công nhận cho ông K được quyền sử dụng đất diện tích 3.358,3m2, thuộc thửa số 242 (nay là thửa 649, 663), tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 242 đã cấp cho bà P để cấp lại cho ông K. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản thì bà P phải chịu, tuy nhiên do bà P là người cao tuổi nên được miễn theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thành phần những người tham gia tố tụng các đương sự thống nhất không có ai khiếu nại hay yêu cầu bổ sung vấn đề gì thêm.
[2]Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện các nguyên đơn ông K kiện yêu cầu tuyên hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà P để điều chỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông K, bà Đ. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là quan hệ tranh chấp trong đó có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh chuyển vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm có mặt do chị L, bà Đ, Luật sư B, ông T.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác chị Nguyễn Thị Hồng V, anh Nguyễn Công K1 có ý kiến xin vắng mặt và không có yêu cầu tranh chấp gì trong vụ án. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử theo quy định.
[3] Về nội dung tranh chấp:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông K và bà Đ khởi kiện yêu cầu tranh chấp yêu cầu giải quyết hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà P; để công nhận quyền sử dụng đất cho ông K, bà Đ diện tích đất theo giấy chứng nhận thửa 242, diện tích 3.840m²; tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do bà Nguyễn Thị P đang đứng tên cấp ngày 12/6/1996, có diện tích cụ thể theo đo đạc thực tế là 3.358.3m². Bà P không đồng ý yêu cầu ông K giao quyền sử dụng đất theo giấy chứng nhận để bà P sử dụng.
[3.2] Xét nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Các đương sự thừa nhận nguồn gốc quyền sử dụng có từ cha mẹ là ông Nguyễn Văn T1 (đã chết năm 1998) và bà Nguyễn Thị D1 (đã chết năm 2018), ông T1 có khoảng 40 công đất. Ông T1 và bà D1 có 10 người con là bà Nguyễn Thị P, bà Nguyễn Thị P1, bà Nguyễn Thị H1 (đã chết), bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị T4 (đã chết lúc nhỏ), ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị N2, ông Nguyễn Công
K và ông Nguyễn Văn Đ2. Khoảng năm 1979, ông T1 có cho ông Đ2 và ông T2, mỗi người là 10 công đất. Khoảng năm 1981-1982 thì ông T1 bán 10 công đất để sử dụng, phần đất còn lại thì giao cho ông K quản lý, sử dụng và nuôi cha mẹ.
Theo ông K, bà Đ phần đất tranh chấp theo thông báo chính quyền địa phương thì đất do ông T1, bà D1 là dư theo định suất Nhà nước quy định sau giải phóng tại địa phương. Địa phương không quy định rõ mỗi hộ gia đình một nhân khẩu là được bao nhiêu đất mà chỉ quy định chung đất dư hơn thì sẽ thu hồi cấp lại cho người khác. Nghe thông tin này năm 1985 đến 1986, ông T1 có giao thửa đất số 617 (hiện nay do bà Nguyễn Thị Hồng V đứng tên) cho ông Đ2 canh tác đất, sau khoảng 02 năm canh tác ông Đ2 trả lại đất cho ông T1. Cùng thời điểm đó, ông T1 có đứng ra nhờ bà P đứng tên giùm phần đất đang tranh chấp để làm phần đất này trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì sẽ không thu hồi được.
Bà P buôn bán ở chợ T6, phường A, thành phố C, không có sử dụng đất ruộng nên giao đất lại cho bà Nguyễn Thị P1, ông Nguyễn Văn T5 (chồng bà P1 lúc này là Trưởng Công an xã) canh tác phần đất này. Bà P1, ông T5 canh tác trên phần đất này khoảng 3, 4 năm nhưng do không đóng thuế, lúa nợ vật tư nên nợ Tập đoàn là 1.500kg lúa. Nhà nước tiến hành đòi nợ nếu không trả lúa nợ thì sẽ lấy đất cấp cho người khác để trả nợ cho Nhà nước. Sau đó, ông K có đứng ra trả 1.500kg lúa cho Tập đoàn, thực hiện trả 01 lần để nhận lại đất và canh tác cho đến nay. Do đó khởi kiện yêu cầu của ông K, bà Đ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà P để cấp quyền sử dụng đất cho ông K, bà Đ.
Bà P không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện ông K vì đất cha mẹ đã cho bà vào năm 1986; bà đã đăng ký quyền sử dụng đất và được cấp quyền sử dụng đất ngày 12 tháng 6 năm 1996. Sau khi được cho đất bà P cho bà P1 sử dụng từ năm 1986 đến năm 1988, sau đó đến năm 1990 ông K mượn sử dụng. Đến năm 2021 ông K thay đổi hiện trạng đất, chuyển mục đích sử dụng đất từ đất ruộng thành đất vườn trồng cây lâu năm nên bà P đã gửi đơn tranh chấp đến Ủy ban nhân dân xã M yêu cầu giải quyết.
[3.3] Xét căn cứ để nguyên đơn là vào việc ông K, bà Đ trả 1.500 kg cho tập đoàn để nhận nhận lại đất canh tác theo ý kiến cha mẹ là ông T1, bà D. Bà P đăng ký quyền sử dụng đất nhưng không có sử dụng đất. Đất ông K, bà Đ sử dụng từ năm 1990 đến nay 2021 không có tranh chấp.
Bà P không đồng ý với lý do vì được cha mẹ cho đất năm 1986 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[3.4] Xét yêu cầu khởi kiện và lời trình bày của ông K, bà Đ là có căn cứ vì lời trình bày của ông K phù hợp với lời khai của ông Nguyễn Văn M2 (trước đây công tác làm Trưởng ban Tài chính xã M) ; ông Nguyễn Thanh M3 (trước đây công tác làm Chủ tịch UBND xã M), ông Đặng Hồ Thanh P2 (kế toán tập đoàn S2), ông Nguyễn Thành S1 (người canh tác đất giáp ranh). Cũng phù hợp với lời trình bày của ông Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn T2 là anh em ruột của bà P, ông K về việc ông T1 cho đất bà P nhờ đứng tên; việc bà P1 thiếu nợ lúa 1.500 kg nên ông K thực hiện lời của ông T1 đứng ra để trả nhận đất sử dụng.
- Lời bà P được anh T3 (con bà P1) trình bày khi nhận đất sử dụng 01-02 năm thì do không thuận tiện đường nước sử dụng canh tác nên trả lại đất cho bà P
nhưng về nợ vật tư nông nghiệp, lúa nhà nước là không có nợ vì anh là người trực tiếp canh tác đất bỏ tiền ra mua bên ngoài thanh toán xong. Bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị N1 trình bày thì không xác định được việc ông T1 cho đất bà P.
Xét lời trình bày của anh T3 không phù hợp như trên và theo công văn số 493/UBND-HC ngày 07/12/2022 của Ủy ban nhân dân xã M thì tập đoàn sản xuất thuộc xã M giải thể vào năm 1991. Cho thấy có sự tồn tại của Tập đoàn được UBND xã M giao nhiệm vụ quản lý, phân chia và thu thuế đất đai vào những năm 1986-1990 và việc ông K đóng thuế 1.500kg lúa để lấy lại đất canh tác từ năm 1990 đến nay là có căn cứ.
[3.5] Theo yêu cầu cung cấp thông tin Tòa án Tại thời điểm từ năm 1988 đến năm 1990 có quy định người được giao đất, nếu không canh tác, sử dụng đất thì bị thu hồi và giao đất cho người khác sử dụng hav không (có chủ trương, quy chế, quy định này hay không? Nếu có cung câp tài liệu kèm theo). ”
Sở tài nguyên Môi trường có văn bản số 1246/STNMT-VPĐKDĐ ngày 04/4/2023 cung cấp thông tin: Qua rà soát các căn cứ pháp lý (giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1990), Sở T7 cung cấp một số căn cứ pháp lý như sau:
-Căn cứ Điều 3 Luật Đất đai năm 1987, quy định;
“Điều 3. Nhà nước đảm bảo cho người sử dụng đất được hưởng những quyền lợi hợp pháp trên đất được giao, kể cả quyền chuyển, nhượng, bản thành quà lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao khi không còn sử dụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
"
-Căn cứ Điều 5 Luật Đất đai năm 1987, quy định:
“Điều 5. Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nóng nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai. ”
-Căn cứ Khoản 5 Điều 14 Luật Đất đai năm 1987, quy định:
“Điều 14. Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phân đât đã giao sử dụng trong những trường hợp sau đây:
5- Người sử dụng đất không sử dụng đất được giao trong 6 thảng liền mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho phép;...
"
[4] Xét về việc đăng ký cấp quyền sử dụng đất của bà P: Đất bà P trình bày được cho năm 1986 nhưng không sử dụng đất. Như đã xác định việc sử dụng đất nêu trên ông K sống chung với ông T1, bà D1; ông K sử dụng đất từ năm 1990 nhưng đến ngày 10/3/1995 bà P đăng ký quyền sử dụng đất theo đơn bà P ghi đất do cha mẹ cho lại từ năm 1981 nhưng không có giấy tờ gì xác định được tặng cho. Ông K là người đang sử dụng đất cũng không hay biết sự việc.
Đồng thời giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà P đứng tên cấp ngày 12/6/1996 chỉ có thời hạn sử dụng là 20 năm. Ngoài việc bà P không sử dụng đất cũng không đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới; cũng không tranh chấp đến năm 2021 thì mới phát sinh tranh chấp.
Theo chi nhánh VPĐKDĐ thành phố C xác định vị trí đất tranh chấp thuộc thửa số 242, tờ bản đồ số 2 bản đồ giải thửa số 796 QSDĐ/T1 tương ứng thửa 663 và thửa 649, tờ bản đồ số 2 của bản đồ địa chính chính quy.
Do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K. Công nhận quyền sử dụng đất cho ông K, bà Đ; không chấp nhận yêu cầu trả đất của bà P.
[5] Đối với cây trồng trên đất tranh chấp được xác định tại phần đất đến tháng 5 năm 2021 ông K trồng gồm: 110 cây mít, 54 cây ổi theo giá do Hội đồng định giá đã định giá và số lượng cây trồng trên đất tổng cộng là 17.600.000 đồng. Ông K, bà Đ không yêu cầu tranh chấp giải quyết số lúa là 1.500 kg và chi phí lên liếp trồng cây, cây trồng trên đất nên không xem xét giải quyết.
[6] Các đương sự khác không có yêu cầu tranh chấp nên không xem xét giải quyết.
[7] Từ những phân tích nêu trên, Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Xét về chi phí thẩm định, định giá: Bà Nguyễn Thị P phải chịu tiền chi phí thẩm định, định giá tổng cộng 5.448.000 đồng. Ông K đã nộp và chi xong nên bà P phải có trách nhiệm trả cho ông K.
[9] Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Nhưng do bà P là người cao tuổi và có đơn xin nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 37, 157, 165, 166, 227, 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Điều 100, 106, 166, 170, 203 của Luật đất đai năm 2013;
Điều 26, 152 của Luật đất đai năm 2024;
Điều 459 của Bộ luật dân sự 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Công K.
2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 242, diện tích 3.840m²; tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do bà Nguyễn Thị P đang đứng tên cấp ngày 12/6/1996 (có diện tích cụ thể theo đo đạc thực tế là 3.358.3m²).
3. Công nhận cho ông Nguyễn Công K, Nguyễn Thị Thu Đ được quyền sử dụng đất diện tích quyền sử dụng đất thửa 242, diện tích 3.840m²; tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do bà Nguyễn Thị P đang đứng tên cấp ngày 12/6/1996, có diện tích cụ thể theo đo đạc thực tế là 3.358.3m². Vị trí các mốc M1, M2, M3, M4, M5 trở về mốc M1.
(Vị trí đất tranh chấp thuộc thửa số 242, tờ bản đồ số 2 bản đồ giải thửa số 796 QSDĐ/T1 tương ứng thửa 663 và thửa 649, tờ bản đồ số 2 của bản đồ địa chính chính quy)
* Đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố C hủy bỏ, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 242, diện tích 2.840m²; tờ bản đồ số 02, đất tọa lạc xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp do bà Nguyễn Thị P đang đứng tên cấp ngày 12/6/1996 để cấp lại cho các đương sự ông K, bà Đ.
(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 29/6/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố C và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án kèm theo).
Các bên đương sự có quyền và nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để điều chỉnh và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
4. Về chi phí, án phí dân sự sơ thẩm:
- Về chi phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị P phải chịu số tiền 5.448.000 đồng chi phí đo đạc và định giá. Ông K đã tạm ứng và chi xong nên bà P có trách nhiệm trả lại cho ông K số tiền này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
+ Ông Nguyễn Văn K3 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.090.000 đồng theo biên lai số 0005420 ngày 24/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.
+ Bà Nguyễn Thị P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a,7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
9
Bản án số 45/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 45/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Công Kết BĐ: Nguyễn Thị Phì
