|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16-9-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Đức Thọ
Hội thẩm nhân dân: Ông Tán Nghị
Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lưu Văn Á, sinh năm 1980;
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Minh T, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng.
(Nguyên đơn và bị đơn có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lưu Văn Á trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lưu Văn Á và bà Huỳnh Thị Minh T kết hôn với nhau năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Thời gian đầu ông và bà T chung sống hạnh phúc và có hai người con chung. Sau đó, trong quá trình chung sống giữa ông và bà T thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Hiện nay cuộc sống gia đình khó khăn hơn do ông đang bị bệnh hiểm nghèo phải phẫu thuật và xạ trị nhưng bà T cũng không quan tâm, chăm sóc. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nếu tiếp tục chung sống sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, danh dự, công việc của nhau. Vì vậy, ông Á yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.
- Về con chung: Ông Lưu Văn Á xác nhận có hai con chung là Lưu Văn D, sinh ngày 21/12/2003 và Lưu Văn T1, sinh ngày 22/01/2012. Ly hôn, ông Á đồng ý giao cháu T1 cho bà T nuôi dưỡng, ông Á không cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu D đã trên 18 tuổi nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Theo bản tư khai và tại phiên tòa bị đơn bà Huỳnh Thị Minh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị Minh T thống nhất về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn như ông Á trình bày là đúng. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc và có hai người con chung. Sau đó, trong quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Hiện nay hai vợ chồng tuy sống chung một nhà nhưng phần ai nấy sống. Tuy nhiên, bà T mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái trưởng thành. Trường hợp, ông Á nhất quyết ly hôn thì bà T đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Bà Huỳnh Thị Minh T xác nhận bà và ông Á có hai con chung là Lưu Văn D, sinh ngày 21/12/2003 và Lưu Văn T1, sinh ngày 22/01/2012. Trường hợp, ông Á nhất quyết ly hôn thì bà Thương yêu C được nuôi cháu T1, không yêu cầu ông Á cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu D đã trên 18 tuổi nên không đề cập giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
* Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
+ Từ khi thụ lý đến trước thời điểm mở phiên tòa: Thẩm phán, Thư ký Tòa án, nguyên đơn tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như không tham gia hòa giải.
+ Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ, đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
* Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử xử cho ông Á được ly hôn với bà T.
+ Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa ông Lưu Văn Á và bà Huỳnh Thị Minh T giao cháu Lưu Văn T1, sinh ngày 22/01/2012 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ông Á không phải cấp dưỡng nuôi con. Riêng cháu D đã trên 18 tuổi nên không đề cập giải quyết.
+ Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xét.
+ Về nợ chung: Không có.
+ Về án phí: Nguyên đơn ông Lưu Văn Á bị bệnh hiểm nghèo nên được miễn án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp ly hôn giữa ông Lưu Văn Á và bà Huỳnh Thị Minh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân:
Ông Lưu Văn Á và bà Huỳnh Thị Minh T kết hôn với nhau vào ngày 03/9/2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống do có mâu thuẫn không tự giải quyết được nên ông Á khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà T.
Tại phiên tòa, ông Lưu Văn Á, bà Huỳnh Thị Minh T đều thừa nhận sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau hai người con chung. Tuy nhiên sau đó ông Á, bà T thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Hiện nay, ông Á và bà T tuy sống chung một nhà nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Theo ông Á trình bày hiện nay cuộc sống gia đình khó khăn hơn do ông đang bị bệnh hiểm nghèo phải phẫu thuật và xạ trị nhưng bà T cũng không quan tâm, chăm sóc; mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng nếu tiếp tục chung sống sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống, danh dự, công việc của nhau.Vì vậy, ông Á yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông Á được ly hôn với bà T. Ngược lại, bị đơn bà T mong muốn được đoàn tụ để xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con cái trưởng thành.
Xét thấy, tại phiên tòa nguyên đơn ông Lưu Văn Á kiên quyết ly hôn; bị đơn bà T mong muốn vợ chồng được đoàn tụ, xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng bà T không có giải pháp cụ thể để níu kéo hôn nhân rạn nứt của vợ chồng. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định tình trạng hôn nhân của ông Á và bà T là trầm trọng, không thể hàn gắn được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Á, xử cho ông Á được ly hôn với bà T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Ông Lưu Văn Á và bà Huỳnh Thị Minh T xác nhận có 02 con chung là Lưu Văn D, sinh ngày 21/12/2003 và Lưu Văn T1, sinh ngày 22/01/2012. Ly hôn, ông Lưu Văn Á và bà Huỳnh Thị Minh T thống nhất thỏa thuận giao con Lưu Văn T1, sinh ngày 22/01/2012 cho bà T nuôi dưỡng, ông Á không phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với con Lưu Văn D, sinh ngày 21/12/2003 đã trên 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.
Xét thấy việc thỏa thuận là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận thỏa thuận này.
[4] Về tài sản chung: Ông Lưu Văn Á và Huỳnh Thị Minh T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét tại bản án này.
[5] Về nợ chung: Ông Lưu Văn Á và Huỳnh Thị Minh T xác nhận không có nên không xét.
[6] Về án phí: Xét ông Lưu Văn Á hiện đang mắc bệnh hiểm nghèo nên miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật nên Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Lưu Văn Á về việc yêu cầu xin ly hôn với bị đơn bà Huỳnh Thị Minh T.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Lưu Văn Á được ly hôn với bà Huỳnh Thị Minh T.
2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của ông Lưu Văn Á và bà Huỳnh Thị Minh T, giao con Lưu Văn T1, sinh ngày 22/01/2012 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi; ông Á không phải cấp dưỡng nuôi con.
Đối với con Lưu Văn D, sinh ngày 21/12/2003 đã trên 18 tuổi nên không đề cập giải quyết.
Các bên đương sự có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung: Không đề cập giải quyết
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Ông Lưu Văn Á được miễn án phí theo quy định.
6. Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Thọ |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an so 45
