TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-8-2024
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Sáu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đinh Đắc Tư;
- Bà Trần Thị Diễm Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Bích Ngọc– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Khổng Phúc Vĩnh N - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 152/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồ Văn T-1985-Yêu cầu vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Võ Thị H-1980-Vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Hồ Văn T trình bày: Ông T và bà H do mai mối, được sự chấp thuận của gia đình nên tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào tháng 4/2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 26/3/2018. Thời gian đầu sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, ly thân khoảng 02 năm nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, cự cải nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Nay nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục sống chung nên ông T yêu cầu ly hôn với bà H. Về con chung: Ông T xác định có 01 con chung với bà H tên là Hồ Minh T1-sinh ngày 03/4/2018. Từ khi ly thân đến nay cháu T1 do bà H nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông T đồng ý giao cháu T1 cho bà H nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con, việc cấp dưỡng vợ chồng tự thỏa thuận, khi nào có tiền ông sẽ gửi cho bà H nuôi cháu T1. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tòa án triệu tập hợp lệ bà H nhiều lần đến Tòa để tham gia giải quyết vụ án nhưng bà H không đến để trình bày ý kiến và yêu cầu của mình. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được nên vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên. Bị đơn vắng mặt lần thứ 02 không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến nay là đúng theo quy định pháp luật, đồng thời phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: Chấp nhận cho ông T được ly hôn với bà H. Về con chung: Giao con chung cho bà H nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không lý do nên căn cứ vào các Điều 227 và 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp.
[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn nên xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp ly hôn. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện V nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét hôn nhân của ông T và bà H là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Ông T xác định vợ chồng đã có một thời gian chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn và ly thân khoảng 02 năm nay. Theo ông T trình bày thì nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường hay gây gỗ, cự cải nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ khi ly thân cả hai không gặp nhau, không còn quan tâm, lo lắng cho nhau, không có biện pháp hàn gắn tình cảm nên ông T yêu cầu ly hôn với bà H. Bà H đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa để trình bày ý kiến và yêu cầu của mình. Điều này, cho thấy bà H không muốn gặp ông T để hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn giữa ông bà trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục duy trì hôn nhân cũng không mang lại hạnh phúc cho nhau. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận cho ông T được ly hôn với bà H là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Ông T xác định có 01 con chung với bà H tên là Hồ Minh T1-sinh ngày 03/4/2018. Hiện nay, con chung đang do bà H nuôi dưỡng. Khi ly hôn, ông T đồng ý giao con chung cho bà H nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con, việc cấp dưỡng các bên tự thỏa thuận, khi nào có tiền ông sẽ gửi cho bà H nuôi con. Xét thấy, việc nuôi dạy con là trách nhiệm chung của cha mẹ. Việc giao con cho ai nuôi dưỡng cũng phải xem xét quyền lợi mọi mặt của con. Từ khi ly thân đến nay, con chung do bà H trực tiếp nuôi dưỡng, môi trường sống và sinh hoạt của cháu đã ổn định. Bà H có thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi dạy cháu phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ nên giao con chung cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông T không cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
[7] Xét lời phát biểu của Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 5, 28, 35, 39, 147, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Văn T được ly hôn với bà Võ Thị H.
Về con chung: Công nhận ông T và bà H có 01 con chung tên là Hồ Minh T1-sinh ngày 03/4/2018. Giao cháu T1 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông T không ai được cản trở. Ông T, bà H có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con.
Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ông Hồ Văn T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007075 ngày 05/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ, công nhận ông T đã nộp xong.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Thu Sáu |
Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Ông Hồ Văn T được ly hôn với bà Võ Thị H.
