Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM KHÊ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HS-ST

Ngày 19 - 6 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Xuân Bộ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuý Hoà.

Ông Nguyễn Việt Tú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ tên: Lê Quang H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 14 tháng 02 năm 1979 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12

    Bố đẻ: Lê Đức H1, sinh năm 1950; Mẹ đẻ: Trần Thị C, sinh năm 1951 hiện đều ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Vợ: Nguyễn Thị Í, sinh năm 1982, hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2003.

    Gia đình bị cáo có 05 anh, chị, em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình.

    Tiền án: 01 tiền án:

    Tại bản án: số 27/2022/HSST ngày 15/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 22 tháng Cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 10.000.000đ về tội Đánh bạc.

    Tiền sự: Không

    Nhân thân:

    Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 105/QĐ- VPHC ngày 09/8/2010, Lê Quang H bị Công an huyện C xử phạt 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc. Bị cáo chấp hành xong ngày 09/8/2010.

    Tại bản án số: 30/2011/HSST ngày 29/6/2011, H bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. H chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.

    Bị cáo không bị bắt, tạm giữ. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(có mặt).

  2. Họ tên: Nguyễn Văn H2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 16 tháng 01 năm 1997 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu N, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12

    Bố đẻ: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968 (hiện không biết ở đâu); Mẹ đẻ: Chu Thị T, sinh năm 1971 hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ, con: chưa có.

    Gia đình bị cáo có 03 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị bắt, tạm giữ. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(có mặt).

  3. Họ tên: Cù Xuân T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 10 tháng 5 năm 1990 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12

    Bố đẻ: Cù Xuân T2, sinh năm 1967; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1966 hiện đều ở xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Vợ: Hà Thị Hương L, sinh năm 1993, hiện ở xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Bị cáo có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2023.

    Gia đình bị cáo có 02 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án: Không

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị bắt, tạm giữ. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(có mặt).

  4. Họ tên: Nguyễn Phương N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 13 tháng 5 năm 1998 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu N, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12.

    Bố đẻ: Nguyễn Hữu H3, sinh năm 1974; Mẹ đẻ: Bùi Thị N1, sinh năm 1978 hiện đều ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Vợ, con: chưa có

    Gia đình bị cáo có 2 anh, em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình.

    Tiền án: Không

    Tiền sự: Không

    Bị cáo không bị bắt, tạm giữ. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(có mặt).

  5. Họ tên: Dương Văn H4; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1988 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12

    Bố đẻ: Dương Văn Đ1 (đã chết); Mẹ đẻ: Lại Thị H5, sinh năm 1946 hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ

    Vợ: Hoàng Thị Y, sinh năm 1995 (đã ly hôn)

    Bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

    Gia đình bị cáo có 4 chị, em, bị cáo là con thứ bốn trong gia đình.

    Tiền án: Không

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị bắt, tạm giữ. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(có mặt).

  6. Họ tên: Phùng Tuấn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

    Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1994 tại C, Phú Thọ.

    Nơi cư trú: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12.

    Bố đẻ: Phùng Văn L1, sinh năm 1970; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H6, sinh năm 1972 hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Vợ: Nguyễn Thị P - sinh năm 1995, hiện ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

    Bị cáo có 01 người con sinh năm 2017.

    Gia đình bị cáo có 2 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

    Tiền án: Không

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị bắt, tạm giữ. Áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 15/02/2024 đến nay. Hiện đang tại ngoại tại xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ.(có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Chu Thị T, sinh năm 1971.

Trú tại: khu N, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ ngày 13/02/2024, Công an xã V, huyện C nhận được đơn trình báo của công dân không ghi rõ tên tuổi, địa chỉ với nội dung:

Rạng sáng ngày 12/02/2024 tại cửa hàng mua bán, sửa chữa xe máy điện của Cù Xuân T1, sinh năm 1990 ở khu Đ, xã V huyện C, T cùng H4 - sinh năm 1998 ở khu Đ, xã V; Tuấn A - sinh năm 1994 ở khu Đ, xã V; N - sinh năm 1998 ở khu N, xã V; H - sinh năm 1979 ở khu Đ, xã V; Nguyễn Văn H2 - sinh năm 1997 ở khu N, xã V có hành vi đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền. Công an xã V đã tiếp nhận đơn trình báo, cùng ngày, Công an xã V chuyển tin báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện C để tiến hành điều tra theo quy định của pháp luật.

Căn cứ đơn trình báo, ngày 13/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành triệu tập Phùng Tuấn A – sinh năm 1994, trú tại: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Phương N – sinh năm 1998, trú tại: khu N, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Dương Văn H4 – sinh năm 1988, trú tại: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nguyễn Văn H2 – sinh năm 1997, trú tại: khu N, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Lê Quang H – sinh năm 1979, trú tại: khu Đ, xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Cù Xuân T1 – sinh năm 1990, trú tại: khu G, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ đến trụ sở Công an huyện C để làm việc.

Quá trình điều tra đã xác định được như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12/02/2024, Phùng Tuấn A; Nguyễn Phương N; Dương Văn H4; Nguyễn Văn H2; Lê Quang H đến quán sửa xe của Cù Xuân T1 ở khu Đ, xã V huyện C, tỉnh Phú Thọ chơi. Tại đây, các đối tượng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa, được thua bằng tiền, mỗi ván cược thấp nhất 100.000₫ (một trăm nghìn đồng), ai đánh cao hơn thì tùy, tất cả đều đồng ý. Các đối tượng ngồi đánh bạc trên chiếc đệm được trải sẵn ở quán của T1, Tuấn A là người dùng kéo có sẵn ở quán của T1 cắt 04 quân bài hình tròn từ vỏ bao thuốc lá Vinataba, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng, T1 là người lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ có sẵn tại quán của mình.

Hình thức đánh xóc đĩa là: Sử dụng 04 quân bài hình tròn, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng được cắt từ vỏ bao thuốc lá Vina. Người cầm cái cho 04 quân bài vào đĩa sứ rồi úp bát lên và xóc đều. Những người chơi đánh bạc đặt cửa chẵn hoặc cửa lẻ. Khi mở bát, nếu có 02 hoặc 04 quân bài cùng màu là cửa chẵn, có 03 quân bài cùng màu là cửa lẻ. Nếu về cửa chẵn thì người đặt cửa chẵn thắng bạc và được người cầm cái trả cho số tiền bằng số tiền đã đặt cược còn người đặt cửa lẻ thua bạc và mất số tiền đã cược, ngược lại nếu về cửa lẻ thì người đặt cửa lẻ thắng bạc và được người cầm cái trả cho số tiền bằng số tiền đã đặt cược còn người đặt cửa chẵn thua bạc và mất số tiền đã cược. N là người xóc cái.

Trước khi tham gia đánh bạc Tuấn A có 2.800.000đ (hai triệu tám trăm nghìn đồng), Tuấn A sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Nam có 6.500.000₫ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng), N sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; H4 có 3.000.000đ ( ba triệu đồng), H4 sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Huấn có 9.500.000đ (chín triệu năm trăm nghìn đồng), H2 sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; H có 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng), H lấy ra 100.000đ (một trăm nghìn đồng) sử dụng vào mục đích đánh bạc, còn 20.000đ (hai mươi nghìn đồng), H cất đi không sử dụng vào mục đích đánh bạc; Tuyến có 10.000.000đ (mười triệu đồng), T1 sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 31.900.000đ (ba mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng).

Quá trình đánh bạc, H có thả cửa một lần số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng) nhưng bị thua bạc nên không tham gia đánh bạc nữa. Tuấn A, N, H4, T1, H2 tiếp tục đánh bạc đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 12/02/2024 thì Tuấn A bị thua hết tiền nên không tham gia đánh bạc. Các đối tượng N, H4, T1, H2 tiếp tục đánh bạc. Đến khoảng hơn 01 giờ 30 phút cùng ngày thì H2 bị thua hết tiền nên H2 vay của H4 số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc, để H4 tin tưởng cho vay tiền, H2 đã đưa cho H4 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ariblade màu đen, đỏ, biển kiểm soát: 19G1 – 20745 mà trước đó H2 đi đến quán anh T1 để làm tin (H4 không yêu cầu H2 đưa xe mô tô cho mình mà H2 tự nguyện đưa). N, H4, T1, H2 đánh bạc liên tục đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ không đánh bạc nữa, lúc này, H4 thắng bạc nên cho H2 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).

Do HTuấn A nghỉ trước khi H2 vay tiền của H4 để đánh bạc nên HTuấn A không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền đánh bạc mà Huấn vay của H4. Vì vậy, tổng số tiền đánh bạc mà HTuấn A phải chịu trách nhiệm hình sự là 31.900.000đ (ba mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng), tổng số tiền đánh bạc mà N, H4, T1, H2 phải chịu trách nhiệm hình sự là 45.900.000đ (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).

Quá trình đánh bạc các đối tượng không phải nộp tiền “hồ” (tiền thuê địa điểm) cho ai và cũng không ai yêu cầu nộp tiền “hồ”.

Tại cơ quan điều tra, Phùng Tuấn A; Nguyễn Phương N; Dương Văn H4; Nguyễn Văn H2; Lê Quang H; Cù Xuân T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các lời khai và các biên bản hỏi cung, vật chứng thu giữ và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 29/CT-VKSCK ngày 14/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo về tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Lê Quang H.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phùng Tuấn A; Nguyễn Phương N; Dương Văn H4; Nguyễn Văn H2; Cù Xuân T1.
  • Tuyên bố các bị cáo Cù Xuân T1, Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2, Lê Quang H phạm tội “đánh bạc”.
  • Về hình phạt:
    • Xử phạt bị cáo Lê Quang H từ 06 (sáu) tháng đến 07(bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Quang H.
    • Xử phạt bị cáo Cù Xuân T1 từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Cù Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Cù Xuân Tuyến t từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Cù Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Văn H2 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
    • Xử phạt bị cáo Dương Văn H4 từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Cù Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Dương Văn H4 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Cù Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã nơi người đó cư trú để gián sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Phương Nam t1 từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
    • Xử phạt bị cáo Phùng Tuấn Ạ từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Cù Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Phùng Tuấn A tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Cù Xuân T1, Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2.

Buộc các bị cáo Cù Xuân T1, Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2 phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ công đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.

Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoaản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 31.900.000đ (ba mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng) Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê (có giấy nộp kèm theo) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

- Truy thu đối với Nguyễn Văn H2 số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu tiêu huỷ:

  • + 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài hình tròn có 01 mặt màu vàng đồng, 01 mặt màu trắng, 01 kéo bằng kim loại, 01 (một) đệm một mặt có hoa văn nhiều màu sắc, một mặt màu trắng là công cụ phương tiện phạm tội.
  • + 01 quần bò ống dài màu xám, 01 áo phông cộc tay màu đen bị cáo Cù Xuân T1 để tiêu huỷ.
  • + 01 quần bò ống dài màu đen, 01 áo khoác dài tay có hoa văn màu đen nâu bị cáo Nguyễn Phương N để tiêu huỷ.
  • + 01 áo khoác dài tay màu vàng, 01 quần bò dài ống màu đen bị cáo Dương Văn H4 để tiêu huỷ.
  • + 01 áo thun dài tay màu đen có kẻ sọc trắng ở ống tay áo, 01 quần thun ống dài có kẻ sọc trắng ở 2 bên ống, quần màu đen bị cáo Phùng Tuấn A để tiêu huỷ.
  • + 01 áo khoác thun màu xanh có kẻ sọc trắng ở tay áo (áo khoác dài tay), 01 quần thun ống dài màu đen bị cáo Nguyễn Văn H2 để tiêu huỷ.
  • + 01 quần gió ống dài màu xanh đen, 01 áo khoác gió dài tay màu đen bị cáo Lê Quang H để tiêu huỷ.

Xác nhận: Ngày 19/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, đỏ, biển kiểm soát: 19G1-207.45, số máy: JF46E5144706, số khung: 4611EY470766; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002834 mang tên Chu Thị T cho bà Chu Thị T là đúng quy định của pháp luật.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo đều không có tranh luận gì.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng pháp luật.

[2]. Về những chứng cứ xác định có tội được xác định như sau:

Từ khoảng 00 giờ 30 đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 12/02/2024, tại quán sửa chữa xe của Cù Xuân T1, sinh năm 1990 ở khu Đ, xã V huyện C, Cù Xuân T1, Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2, Lê Quang H đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 31.900.000đ (ba mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng), đây cũng là tổng số tiền đánh bạc mà HTuấn A phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 12/02/2024, H, Tuấn A chơi thua hết số tiền mình có nên không tham gia đánh bạc nữa, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2, Cù Xuân T1 tiếp tục đánh bạc. Quá trình đánh bạc, H2 vay của H4 số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Như vậy, tổng số tiền các đối tượng trên sử dụng vào mục đích đánh bạc là 45.900.000đ (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng). Do đó, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2, Cù Xuân T1 phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 45.900.000đ (bốn mươi lăm triệu chín trăm nghìn đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Phùng Tuấn A; Nguyễn Phương N; Dương Văn H4; Nguyễn Văn H2; Lê Quang H; Cù Xuân T1 đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

...”

Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi đánh bạc của mình, do đó, cáo trạng số 29/CT -VKSCK- HS ngày 14/5/2024 của VKSND huyện Cẩm Khê đã truy tố các bị cáo trên về tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ chấp nhận.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Các bị cáo thực hiện hành vi đồng phạm giản đơn, thực hiện lỗi cố ý; mức độ phạm tội là ít nghiêm trọng, nhưng số lượng bị cáo tham gia nhiều, đã xâm phạm trật tự quản lý công cộng, gây dư luận xấu trong xã hội, nên hành vi của các bị cáo phải bị xử lý nghiêm.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Phùng Tuấn A; Nguyễn Phương N; Dương Văn H4; Nguyễn Văn H2; Cù Xuân T1 được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Bị cáo Lê Quang H được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Lê Quang H: Tại bản án: số 27/2022/HSST ngày 15/3/2022, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt H 22 tháng Cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 10.000.000đ về tội Đánh bạc, tính đến ngày thực hiện hành vi đánh bạc bị cáo chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Phùng Tuấn A; Nguyễn Phương N; Dương Văn H4; Nguyễn Văn H2; Cù Xuân T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân của các bị cáo:

Đối với bị cáo Lê Quang H: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 105/QĐ-VPHC ngày 09/8/2010, Lê Quang H bị Công an huyện C xử phạt 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc. Bị cáo chấp hành xong ngày 09/8/2010. Tại bản án số: 30/2011/HSST ngày 29/6/2011, H bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xử phạt 12 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. H chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.

Đối với các bị cáo Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2, Cù Xuân T1 đều có nhân thân tốt.

Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn với bị cáo: Lê Quang H; áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2, Cù Xuân T mới đảm bảo trừng trị, giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa trong xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000đồng”.

Xét thấy: Các bị cáo đều là lao động tự do, không có tài sản riêng nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp. Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo xử phạt hình phạt cải tạo không giam giữ.

[6]. Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

- Đối với số tiền 31.900.000đ (ba mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng) Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê (có giấy nộp kèm theo) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài hình tròn có 01 mặt màu vàng đồng, 01 mặt màu trắng, 01 kéo bằng kim loại, 01 (một) đệm một mặt có hoa văn nhiều màu sắc, một mặt màu trắng là công cụ phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ;

- Đối với: 01 quần bò ống dài màu xám, 01 áo phông cộc tay màu đen của bị cáo Cù Xuân T1; 01 quần bò ống dài màu đen, 01 áo khoác dài tay có hoa văn màu đen nâu của bị cáo Nguyễn Phương N; 01 áo khoác dài tay màu vàng, 01 quần bò ống dài màu đen của bị cáo Dương Văn H4; 01 áo thun dài tay màu đen có kẻ sọc trắng ở ống tay áo, 01 quần thun ống dài có kẻ sọc trắng ở 2 bên ống, quần màu đen của bị cáo Phùng Tuấn A; 01 áo khoác thun màu xanh có kẻ sọc trắng ở tay áo (áo khoác dài tay), 01 quần thun ống dài màu đen của bị cáo Nguyễn Văn H2; 01 quần gió ống dài màu xanh đen, 01 áo khoác gió dài tay màu đen bị cáo Lê Quang H. Các bị cáo đều không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Quá trình điều tra đã xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, đỏ, biển kiểm soát : 19G1-207.45, số máy: JF46E5144706, số khung: 4611EY470766; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002834 mang tên Chu Thị T là của bà Chu Thị T, sinh năm 1971 ở xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ (mẹ đẻ Nguyễn Văn H2), ngày 11/02/2024, H2 mượn bà T xe mô tô để đi chơi, việc H2 sử dụng xe mô tô trên để đi đánh bạc và dùng xe mô tô để vay tiền đánh bạc, bà T không biết và H2 cũng không nói cho bà T biết. Ngày 19/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại xe mô tô cùng đăng ký xe cho bà Chu Thị T là đúng quy định của pháp luật cần xác nhận là hợp pháp.

Quá trình đánh bạc, H2 vay của H4 số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) để sử dụng vào mục đích đánh bạc vì vậy phải truy thu số tiền 14.000.000₫ (mười bốn triệu đồng) đối với Nguyễn Văn H2 để sung Ngân sách Nhà nước.

[7]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • *Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Lê Quang H.
  • *Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 4 Điều 36 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phùng Tuấn A; Nguyễn Phương N; Dương Văn H4; Nguyễn Văn H2; Cù Xuân T1.
  • *Tuyên bố các bị cáo Cù Xuân T1, Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2, Lê Quang H phạm tội “đánh bạc”.
  • * Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Lê Quang H 07 (Bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
    • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Quang H.
    • - Xử phạt bị cáo Cù Xuân T1 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Cù Xuân T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Cù Xuân Tuyến t từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H2 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Văn H2 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Văn H2 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
    • - Xử phạt bị cáo Dương Văn H4 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Dương Văn H4 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Dương Văn H4 tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Nguyễn Phương N cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Nguyễn Phương Nam t1 từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
    • - Xử phạt bị cáo Phùng Tuấn Ạ 10 (Mười) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo Phùng Tuấn A cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V để giám sát, giáo dục người bị kết án. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với bị cáo Phùng Tuấn A tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Phú Thọ nhận được quyết định thi hành án và bản sao Bản án.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Cù Xuân T1, Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2.
  • Buộc các bị cáo Cù Xuân T1, Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2 phải lao động phục vụ cộng đồng, thời gian lao động phục vụ công đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong một tuần.
  • Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 31.900.000đ (ba mươi mốt triệu chín trăm nghìn đồng) Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã gửi vào tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê (có giấy nộp kèm theo) là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
    • - Truy thu đối với Nguyễn Văn H2 số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
    • - Tịch thu tiêu huỷ:
      • + 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân bài hình tròn có 01 mặt màu vàng đồng, 01 mặt màu trắng, 01 kéo bằng kim loại, 01 (một) đệm một mặt có hoa văn nhiều màu sắc, một mặt màu trắng là công cụ phương tiện phạm tội.
      • + 01 quần bò ống dài màu xám, 01 áo phông cộc tay màu đen của bị cáo Cù Xuân T1.
      • + 01 quần bò ống dài màu đen, 01 áo khoác dài tay có hoa văn màu đen nâu của bị cáo Nguyễn Phương N.
      • + 01 áo khoác dài tay màu vàng, 01 quần bò ống dài màu đen của bị cáo Dương Văn H4.
      • + 01 áo thun dài tay màu đen có kẻ sọc trắng ở ống tay áo, 01 quần thun ống dài có kẻ sọc trắng ở 2 bên ống, quần màu đen của bị cáo Phùng Tuấn A.
      • + 01 áo khoác thun màu xanh có kẻ sọc trắng ở tay áo (áo khoác dài tay), 01 quần thun ống dài màu đen bị cáo Nguyễn Văn H2.
      • + 01 quần gió ống dài màu xanh đen, 01 áo khoác gió dài tay màu đen bị cáo Lê Quang H.
    • (Vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê).
    • *Về truy thu: Truy thu đối với Nguyễn Văn H2 số tiền 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.
    • Xác nhận: Ngày 19/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, đỏ, biển kiểm soát: 19G1-207.45, số máy: JF46E5144706, số khung: 4611EY470766; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 002834 mang tên Chu Thị T cho bà Chu Thị T là đúng quy định của pháp luật.
  • *Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Cù Xuân T1, Phùng Tuấn A, Nguyễn Phương N, Dương Văn H4, Nguyễn Văn H2, Lê Quang H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  • *Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo đề nghị xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

-VKSND huyện Cẩm Khê;

-VKSND tỉnh Phú Thọ;

-UBND xã nơi B/c cư trú;

-CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê;

-THADS huyện Cẩm khê;

-THA Hình sự;

-Người tham gia tố tụng;

-Lưu hồ sơ+VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Xuân Bộ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc

  • Số bản án: 45/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger