Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 45/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Xuân Hinh;
  • Ông Trần Thanh Hải.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K' Dem - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QÐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Hoàng Thị Hà V, sinh năm: 1990; nơi cư trú: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm: 1987; nơi cư trú: thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Chị V có mặt, anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu có trong hồ sơ và lời trình bày của chị Hoàng Thị Hà V thì:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Đ tổ chức lễ cưới vào năm 2015, đến năm 2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Hôn nhân do hai bên tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại Thành phố Hồ Chí Minh đến khi con chị được 04 tháng thì vợ chồng về nhà mẹ đẻ của chị ở thôn A, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng sinh sống. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 7/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không thường xuyên ở gần nhau, vợ chồng sống không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân từ tháng 7/2022 đến nay. Từ khi sống ly thân, mỗi người ở một nơi, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, mạnh ai người đó sống. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Đ, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn với anh Huỳnh Văn Đ.

- Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Huỳnh Minh H, sinh ngày 08/5/2016, hiện con đang ở với chị. Ly hôn chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con đủ tuổi thành niên, chị làm giáo viên, mở lớp tiếng anh tại nhà, thu nhập từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, chị có nhà riêng nên có điều kiện nuôi con. Anh Đ làm kỹ sư cầu đường, thu nhập khoảng 20.000.000 đồng/tháng nên chị yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con số tiền 3.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung và nợ chung: chị V xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đơn đề nghị xét xử vắng mặt ghi ngày 10/5/2024 của anh Huỳnh Văn Đ thì: Anh và chị Hoàng Thị Hà V đã hoàn toàn không còn tình cảm vợ chồng với nhau, vợ chồng đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân hơn một năm. Nay cảm thấy không thể hàn gắn tình cảm được nữa nên anh đồng ý ly hôn và không có bất cứ ý kiến gì về phán quyết của quý Tòa cũng như nội dung đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị Hà V.

Anh yêu cầu được vắng mặt trong tất xả các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và xin vắng mặt trong tất cả các buổi xét xử của Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, chị V yêu cầu được ly hôn anh Huỳnh Văn Đ; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Huỳnh Minh H, sinh ngày 08/5/2016, yêu cầu anh Huỳnh Văn Đ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con đến tuổi thành niên; anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

Về tố tụng: trong quá trình thụ lý vụ án cũng như giải quyết vụ án, thì Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: xét mâu thuẫn giữa chị V và anh Đ có xảy ra và thực tế đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, anh Đ cũng đồng ý ly hôn với chị V nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp yêu cầu khởi kiện của chị V, cho chị V và anh Đ được ly hôn.

Về con chung: giữa chị V và anh Đ có một con chung là cháu Huỳnh Minh H, sinh ngày 08/5/2016, hiện cháu H đang ở với chị V, có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường, cháu H có nguyện vọng được ở với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Chị V yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị V, buộc anh Đ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung: chị V xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

Về án phí: buộc chị V phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm; buộc anh Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xuất phát từ yêu cầu khởi kiện của chị V yêu cầu được ly hôn với anh Đ nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

[2] Về tố tụng: Anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh Đ kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền và được cấp giấy chứng nhận kết hôn nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Theo chị V thì cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 7/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không thường xuyên ở gần nhau, vợ chồng sống không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống nên vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Vợ chồng cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả nên đã sống ly thân từ tháng 7/2022 đến nay. Từ khi sống ly thân, mỗi người ở một nơi, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, mạnh ai người đó sống. Nay chị V xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh Đ nên yêu cầu được ly hôn với anh Đ. Anh Đ cũng xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị V nên chị V xin ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị V và anh Đ đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị V. Cho chị V và anh Đ được ly hôn.

[4] Về con chung: Giữa chị V và anh Đ có một con chung là cháu Huỳnh Minh H, sinh ngày 08/5/2016, hiện cháu H đang ở với chị V. Ly hôn chị V yêu cầu được nuôi con chung. Xét thấy cháu H đang sống chung với chị V, có cuộc sống ổn định, phát triển bình thường, Tòa án lấy lời khai, cháu H có nguyện vọng được ở với chị V nên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu H, cần giao cháu H cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu H đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: tại phiên tòa, chị V yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp nên chấp nhận yêu cầu của chị V. Buộc anh Đ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi con đủ tuổi thành niên.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị V xác định vợ chồng không có tài sản chung cũng như không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.

[6] Về án phí: Chị V phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, anh Đ phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, các Điều 147, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Hà V và anh Huỳnh Văn Đ ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Huỳnh Minh H, sinh ngày 08/5/2016 cho chị Hoàng Thị Hà V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ tuổi thành niên.

Buộc anh Huỳnh Văn Đ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Minh H, sinh ngày 08/5/2016 số tiền 2.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 6/2024 cho đến khi cháu H đủ tuổi thành niên.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp, không trực tiếp nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày chị Hoàng Thị Hà V có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền cấp dưỡng nuôi con cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh Huỳnh Văn Đ còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  1. Về án phí: Chị Hoàng Thị Hà V phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị V đã nộp theo biên lai thu số 0005788 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng).

Buộc anh Huỳnh Văn Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, chị V được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xin xét xử phúc thẩm; riêng anh Đ vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
  2. Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - UBND xã Thiện Chí, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu AV - HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Chiến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trần Thanh Hải – Nguyễn Xuân Hinh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Văn Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 45/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 45/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Hà V - Huỳnh Văn Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger