TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS-ST | |
Ngày 19 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Nhật Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hà Giang và Bà Phạm Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Ninh Bình và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình và điểm cầu của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, cùng các điểm cầu của Tòa án nhân dân cấp huyện, thành phố thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình. Xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lường Văn H, sinh năm 1991, tại tỉnh Lai Châu; nơi thường trú: Bản H, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; nơi ở hiện tại: Thôn T, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 08/12; dân tộc: Kháng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lường Văn Í (đã chết) và bà Lò Thị P; có vợ chị Quàng Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2013.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 23/12/2020, bị Công an huyện V, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa chấp hành.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 04/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay; có mặt.
- Quàng Thị P, sinh năm 1987, tại tỉnh Điện Biên; nơi thường trú: Thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện tại: Thôn T, xã Ni, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 01/12; dân tộc: Kháng; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn S và bà Quàng Thị H (đều đã chết); có chồng anh Lò Văn Đ (đã ly hôn) và có 04 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/3/2024 đến ngày 04/4/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Lê Văn Q; sinh năm 1970; trú tại: Thôn T, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình, vắng mặt.
+ Chị Trần Thị M; sinh năm 1978; trú tại: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định, vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Phạm Văn T, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lường Văn H, sinh năm 1991, trú tại bản Bản H, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu và Quàng Thị P, sinh năm 1987, trú tại Thôn P, xã X, huyện T, tỉnh Điện Biên là đối tượng sử dụng chất ma túy, H và P đang thuê 2 phòng trọ tại Thôn T, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình và làm nghề bốc vác vật liệu xây dựng. Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 26/3/2024 H rủ P góp tiền đi mua ma túy về sử dụng, P đồng ý, P đưa cho H 750.000 đồng, H bỏ ra 750.000 đồng tổng số tiền là 1.500.000 đồng, H là người cầm tiền. H điều khiển xe mô tô BKS: 18D1-648.25 chở P đi từ thành phố N đến khu vực cầu Quy H, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma tuý. Khi đến nơi, H và P gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 03 gói ma túy được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng với giá là 1.500.000 đồng rồi H điều khiển xe mô tô chở P quay về tìm nơi sử dụng, trên đường đi H nhặt được 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long ở ven đường nên cất giấu 03 gói ma tuý vừa mua được vào bên trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long và giắt vào khung gác baga giữa của xe mô tô. Đến khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày khi H, P đi đến đoạn đường ĐT 483 thuộc Khu Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình thì gặp tổ công tác Công an thị trấn Y, huyện Y đang làm nhiệm vụ tại đây, thấy H và P có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã yêu cầu dừng xe kiểm tra hành chính, lúc này H định lấy bao thuốc lá Thăng Long vất đi nhưng bị tổ công tác giữ lại. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và tiến hành kiểm tra đối với Lường Văn H, Quàng Thị P. Kiểm tra bao thuốc lá Thăng Long để tại khung gác baga giữa của xe mô tô, phát hiện bên trong bao thuốc có 03 gói nhỏ đều có đặc điểm được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. H và P đều khai nhận chất bột dạng cục màu trắng được gói bằng giấy bạc màu trắng là ma tuý loại Heroine mua về sử dụng cho bản thân.
Tổ công tác đã tiến hành niêm phong 03 gói nhỏ thu giữ của H và P vào phong bì thư, ký hiệu M. Sau đó Tổ công tác đã đưa Lường Văn H, Quàng Thị P cùng tang vật, phương tiện và mời người người chứng kiến về trụ sở Công an thị trấn Y để tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật thu giữ. Cùng ngày Công an thị trấn Y đã chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu có liên quan cùng đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y tiếp tục điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu M, cân xác định khối lượng và lấy toàn bộ khối lượng chất bột dạng cục màu trắng cho vào 03 túi nilon (ký hiệu M1, M2, M3) gửi trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số 341/KL-KTHS-MT ngày 02/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“ Mẫu gửi giám định kỹ hiệu M1 có khối lượng 0,2338 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,2505 gam ký hiệu M3 có khối lượng 0,2542 gam. Tổng khối lượng ba mẫu ký hiệu M1, M2, M3 là 0,7385 gam.
Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 đều là ma tuý, loại Heroine (Heroin). Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự thứ 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. ”
Quá trình điều tra, Lường Văn H, Quàng Thị P đã khai nhận hành vi mua, cất giữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân như đã nêu trên.
Cáo trạng số 41/CT - VKSYK ngày 18/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Lường Văn H, Quàng Thị P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lường Văn H, Quàng Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lường Văn H từ 24 tháng đến 30 tháng tù, bị cáo Quàng Thị P từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ các bị cáo ngày 26/3/2024. Về hình phạt bổ sung; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong bên trong chứa 03 gói giấy bạc màu trắng thu giữ ban đầu của bị cáo Hoạn, Phượng, vỏ phong bì ký hiệu M, N; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 phong bì niêm phong bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định M1 = 0,1871 gam; M2 = 0,1927 gam; M3 = 0,1869 gam đều là ma tuý, loại Heroine (Heroin) và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo vì thuộc hộ nghèo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, song lời khai trong hồ sơ xác định đã nhận lại xe mô tô và đều không có yêu cầu đề nghị gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến bào chữa, tranh luận.
Nói lời sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên huyện Y trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Về những chứng cứ xác định tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang: lời khai của người tham gia tố tụng; kết luận giám định chất ma túy thu giữ của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 12 giờ 10 phút, ngày 26/3/2024, tại đoạn đường 483, thuộc khu Đ, thị trấn Y, huyện Y, H, P bị tổ công tác Công an thị trấn Y, huyện Y, qua kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tại gác baga giữa của xe mô tô một bao thuốc lá Thăng Long bên trong bao thuốc có 03 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng. H và P khai nhận chất bột dạng cục màu trắng là ma tuý loại Heroine mua về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản, niêm phong vật chứng và tạm giữ 01 xe mô tô. Công an thị trấn Y đã chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Y điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng và lấy toàn bộ khối lượng chất bột dạng cục màu trắng cho vào 03 túi nilon (ký hiệu M1, M2, M3) gửi trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số 341/KL-KTHS-MT ngày 02/4/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận:
“ Mẫu gửi giám định kỹ hiệu M1 có khối lượng 0,2338 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 0,2505 gam ký hiệu M3 có khối lượng 0,2542 gam. Tổng khối lượng ba mẫu ký hiệu M1, M2, M3 là 0,7385 gam.
Mẫu gửi giám định ký hiệu M1, M2, M3 đều là ma tuý, loại Heroine (Heroin). Heroine (Heroin) có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự thứ 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Theo Điều 249. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy đinh:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy tùy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR - 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05gam.”
Như vậy về hành vi và khối lượng ma túy thu giữ của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy và gây dư luận xấu trên địa bàn, ngoài ra ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[4] Xét tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án có hai bị cáo cùng tham gia, với tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người nghiện ma túy và biết rõ về sự tác hại về ma túy, bản thân bị cáo H đang có 01 tiền sự về hành vi sử dụng ma túy nhưng bị cáo không từ bỏ, bị cáo thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên đã chủ động rủ bị cáo P cùng góp tiền mua, cất giấu ma túy về để sử dụng cho bản thân. Do vậy về trách nhiệm hình sự của bị cáo H phải chịu cao hơn bị cáo P là phù hợp và cần buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa, đấu tranh với loại tội phạm về ma túy.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không mang tính chất vụ lợi và thuộc hộ nghèo, sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là phù hợp.
[5] Về nguồn gốc ma túy: Quá trình điều tra bị cáo khai nhận nguồn gốc số ma túy bị cáo mua của một người đàn ông không rõ tên, tuổi ở khu vực cầu Quy H thuộc xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.
[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave a, BKS: 18D1-648.25 mà bị cáo H sử dụng đi mua ma túy ngày 26/3/2024, quá trình điều tra đã xác định đây là tài sản của chị Trần Thị M, trú tại thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Chị M đã cho anh Lê Văn Q, trú tại thôn T, xã N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình mượn xe, sau đó anh Q lại cho H và P mượn lại xe. Chị M và anh Q đều không biết việc H và P sử dụng xe mô tô này để đi mua ma túy. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cho chị M là chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với 01 phong bì dán kín niêm phong, có chữ ký xác nhận và đóng dấu niêm phong theo quy định. Bên ngoài phong bì ghi: “03 gói giấy bạc màu trắng dùng để đựng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ ban đầu của Lường Văn H và Quàng Thị P, vỏ phong bì ký hiệu M, N; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 phong bì Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình số 341/KL-KTHS-MT, bên ngoài phong bì có ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Lường Văn H, sinh năm 1991 và Quàng Thị P, sinh năm 1987, cất giấu trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 26/03/2024, tại thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M1 = 0,1871 gam; M2 = 0,1927 gam; M3 = 0,1869 gam đều là ma tuý, loại Heroine (Heroin) và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong. Đây là số vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Án phí hình sự: Bị cáo H và P đều thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố các bị cáo Lường Văn H, Quàng Thị P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lường Văn H 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, ngày 26 tháng 3 năm 2024.
Xử phạt: Bị cáo Quàng Thị P 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, ngày 26 tháng 3 năm 2024.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín niêm phong, có chữ ký xác nhận và đóng dấu niêm phong theo quy định. Bên ngoài phong bì ghi: “03 gói giấy bạc màu trắng dùng để đựng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ ban đầu của Lường Văn H và Quàng Thị P, vỏ phong bì ký hiệu M, N; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng; 01 phong bì Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình số 341/KL-KTHS-MT, bên ngoài phong bì có ghi: “Mẫu vật hoàn trả sau giám định vụ Lường Văn H, sinh năm 1991 và Quàng Thị P, sinh năm 1987, cất giấu trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 26/03/2024, tại thị trấn Yên Ninh, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M1 = 0,1871 gam; M2 = 0,1927 gam; M3 = 0,1869 gam đều là ma tuý, loại Heroine (Heroin) và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong là vật chứng của vụ án.
Vật chứng có đặc điểm mô tả như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Y.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lường Văn H, Quàng Thị P vì thuộc hộ nghèo.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Nhật Trung. |
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn H cùng đồng phạm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
