TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 45/2024/HS-ST Ngày 19-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Xuyến;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hữu Bình;
Ông Hoàng Văn Đoan.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Ngọc Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử thuộc Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Đoàn Thế H, sinh ngày 27/7/1982 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Công H1 và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Đỗ Thị C1, sinh năm 1984 và có 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Bị hại: Anh Hoàng Văn N, sinh năm 1984; chết ngày 25/10/2023.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng (là vợ bị hại); vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH V, địa chỉ: Khu đô thị M, quận N, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của Tổng giám đốc Công ty TNHH V: Ông Hồ Quang H2, sinh năm 1987, nơi cư trú: Phường P, quận T, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Thế H có giấy phép lái xe hợp lệ hạng E do Sở Giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 24/7/2019, có giá trị đến ngày 24/7/2024. Từ ngày 05/01/2022, H ký hợp đồng lao động làm nhân viên lái xe cho Công ty trách nhiệm hữu hạn V (Công ty V), địa chỉ: Khu đô thị M, phố M, quận N, thành phố Hà Nội. Ngày 25/10/2023, H được công ty giao điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát (BKS) 29B-197.81 loại 45 chỗ ngồi đưa đón công nhân làm việc cho Công ty L. Khoảng 20 giờ 35 phút ngày 25/10/2023, Đoàn Thế H điều khiển xe ô tô 45 chỗ BKS 29B-197.81 đi trên trục đường B, thuộc thôn R, Q, T, Hải Phòng theo hướng từ cầu M về cầu C. Khi đi đến khu vực ngã tư thôn R, Hải quan sát thấy xe mô tô BKS 16K8- 3289 do anh Hoàng Văn N, sinh năm 1984; nơi thường trú: Thôn B, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng điều khiển đi từ đường làng phía bên trái xe ô tô ra ngã tư để vượt qua đường 25, nhưng do H không đảm bảo tốc độ xe nên phần đầu xe ô tô của H điều khiển đã xảy ra va chạm với giá để chân bên phải phía trước xe mô tô do anh N điều khiển làm anh N bị hất lên đập đầu vào kính chắn gió phía trước của xe ô tô ngã xuống đường. Anh N được đưa đi cấp cứu nhưng sau đó tử vong.
Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện, nơi xảy ra tai nạn là khu vực giữa ngã tư thôn R, làn đường 25 được trải nhựa rộng 08m có vạch sơn màu vàng đứt đoạn chia thành 02 chiều xe chạy riêng biệt ở giữa tim đường. Vết cày dài 18,8m. Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 3,9m, đuôi vết cày trùng với giá để chân xe mô tô BKS 16K8-3289.
Tại bản Kết luận giám định số 259/KL-KTHS ngày 30/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Dấu vết dập rách vỡ khuyết nhựa, bề mặt trượt xước mất sơn màu trắng, màu đen, bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su), màu đỏ (dạng sơn) theo chiều từ trước về sau tại biển kiểm soát và ốp nhựa cản trước đầu xe ô tô mang biển kiểm soát 29B-197.81 (Ảnh 5, 6, 7: Bản ảnh giám định) phù hợp với dấu vết cong vênh kim loại, mất bọc cao su tại bàn để chân bên phải phía trước, dập vỡ nhựa, trượt xước sơn màu đỏ bám dính tạp chất màu trắng, màu đen (dạng sơn) tại ốp nhựa thân xe liền kề theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau trên xe mô tô mang biển kiểm soát 16K8-3289 (Ảnh 12, 13: Bản ảnh giám định). Các dấu vết này được hình thành khi hai phương tiện chuyển động gần như vuông góc va chạm với nhau.
Kết quả khám nghiệm tử thi xác định các dấu vết tổn thương trên cơ thể anh Hoàng Văn N như sau: “Mặt biến dạng bè ra hai bên. Cánh tay phải sưng nề biến dạng. Chân phải biến dạng ngắn hơn chân trái... Gãy di lệch xương cột sống cổ đốt 4, 5".
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 362/KL-KTHS ngày 26/11/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: Nạn nhân Hoàng Văn N chết do sốc đa chấn thương”.
2
Tại bản Kết luận giám định số 615/KL-KTHS ngày 01/3/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: 01 tập tin có phần mở rộng “MP4” dung lượng 2,23 MB được lưu trong USB do ông Vũ Văn S, sinh năm 1972, trú tại thôn R, xã Q, huyện T cung cấp cho cơ quan điều tra không có dấu hiệu bị cắt ghép, chỉnh sửa.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 18/KL-ĐG ngày 10/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Xe ô tô BKS 29B-197.81 bị thiệt hại 20.540.000 đồng. Xe mô tô BKS 16K8-3289 bị thiệt hại 3.540.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và thừa nhận, nguyên nhân xảy ra tai nạn do lỗi của bị cáo và một phần lỗi của bị hại. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng.
Người đại diện hợp pháp của bị hại (chị Nguyễn Thị Hồng T) xác nhận đã nhận đủ 200.000.000 đồng do bị cáo bồi thường; đã nhận lại xe mô tô BKS 16K8-3289 và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp của Công ty V (anh Hồ Quang H2) khai: Ngày 25/10/2023, H được Công ty điều động điều khiển xe ô tô BKS 29B-197.81 di chuyển theo hướng từ Quốc lộ A về huyện T, gây tai nạn làm anh N tử vong; thiệt hại do xe ô tô bị hư hỏng là 20.540.000 đồng, Công ty không yêu cầu H bồi thường.
Cáo trạng số 48/CT-VKSTL ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố Đoàn Thế H về tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đề nghị được trả lại giấy phép lái xe hạng E mang tên Đoàn Thế H. Người đại diện hợp pháp của bị hại (chị Nguyễn Thị Hồng T); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Hồ Quang H2) vắng mặt tại phiên tòa nhưng không có văn bản thay đổi lời khai.
Kiểm sát viên trình bày luận tội, lập luận, giữ nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Đoàn Thế H từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo. Về bồi thường dân sự: Do bị cáo và gia đình bị hại đã giải quyết xong, người đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm nên không phải giải quyết. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng E mang tên Đoàn Thế H. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
3
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Chứng cứ, tài liệu do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập; người tham gia tố tụng cung cấp có trong hồ sơ vụ án đều đảm bảo hợp pháp; được thu thập, cung cấp đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung các biên bản khám nghiệm hiện trường, tử thi, phương tiện; phù hợp với các kết luận giám định pháp y, kỹ thuật hình sự và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Sự phù hợp đó chứng minh sự thật khách quan xảy ra ngày 25/10/2023 trên đường B đoạn đi qua địa phận thôn R, xã Q, huyện T, bị cáo có giấy phép lái xe hạng E, điều khiển xe ô tô BKS 29B-197.81 tham gia giao thông, không chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua khu vực có biển báo hiệu “Giao nhau với đường không ưu tiên” là vi phạm các điều 11, 12 Luật Giao thông đường bộ, được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn của xe cơ giới khi tham gia giao thông đường bộ nên đã đâm va vào anh Hoàng Văn N đang điều khiển xe mô tô, gây hậu quả làm anh N tử vong. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, hậu quả làm chết người nên bị cáo đã phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến an toàn công cộng, trật tự công cộng; xâm hại đến tính mạng của người khác.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị hại có một phần lỗi điều khiển xe tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn và không giảm tốc độ, nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên là vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ; người đại diện hợp
4
pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xét thấy: Bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt và nơi cư trú rõ ràng; đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, bị hại có một phần lỗi; bị cáo có khả năng tự cải tạo; việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo bằng mức hình phạt thấp nhất quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự và căn cứ Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục, đồng thời buộc bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự cũng bảo đảm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.
[7] Về bồi thường dân sự: Xét thấy trong giai đoạn điều tra, bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong vấn đề bồi thường dân sự (bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 200.000.000 đồng); người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không phải giải quyết.
[8] Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện T đã trả xe ô tô BKS 29B-197.81, giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường cho Công ty V; trả lại xe mô tô BKS 16K8-3289 cho đại diện gia đình bị hại Hoàng Văn N. Đối với 01 giấy phép lái xe hạng E mang tên Đoàn Thế H (đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng), xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu, tại phiên tòa, bị cáo đề nghị được trả lại nên cần trả lại bị cáo vật chứng này.
[9] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Thế H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
1. Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, phạt: Đoàn Thế H 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
5
Giao Đoàn Thế H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:
“Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Đoàn Thế H.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Đoàn Thế H.
2. Về bồi thường dân sự: Không xem xét giải quyết, do các đương sự đã thỏa thuận, giải quyết xong.
3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại Đoàn Thế H 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng E mang tên Đoàn Thế H, có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
6
Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Đoàn Thế H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Xuyến |
7
8
Bản án số 45/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 45/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Thế H vi phạm quy định về tham gia GTĐB
